Chương 20:
TÀU BỊNH VIỆN ĐẢO ÁNH SÁNG (1)
Hình như ông trời cũng khá công bình, hễ cho ai một chút hạnh phúc thì ổng đòi phải trả lại bằng khổ đau, như việc tôi ngủ nhờ nhà mát Vũng Tàu của Tư Máy Cày. Ngủ đêm ở đây thì sướng được nhiều chuyện. Trước hết là chuyện cái giường. Tuy mặt giường nào ở Bidong cũng làm bằng những khúc cây nhỏ, có u có nần ghép lại, nhưng anh Tư đào đâu ra không biết, được mấy cái thùng cạc tông của khối tiếp liệu vứt bỏ, mấy tấm cạc tông nầy quí như vàng, anh bèn xé trải thẳng ra làm nệm để lót giường, mỗi lần ngã lưng nằm xuống, đã lắm, êm như nệm gòn. Giường rộng mênh mông, tha hồ duỗi tay duỗi chưn, ngoài ra còn có bạn bè thân tình để hàn huyên tâm sự, rồi còn có gió mát trăng thanh trên biển thiếu gì... Tôi còn đòi hỏi gì hơn nữa!
Nhưng chuyện đời đâu có đơn giản như mình muốn. Đêm ở đây thì ít khi nào đi ngủ sớm, khi không có chuyện gì để nói tới nói lui, tôi ngồi ngó trăng, ngó nước, ngó đọt đừa, ngó lửa lập lòe trên đỉnh núi...cũng kéo dài tới khuya, nói chi ở đảo ngày nào cũng có đề tài hấp dẫn để bàn cải, thảo luận. Tối nào cũng thức cho tới một hai giờ sáng. Cái nổi khổ là ở chỗ nầy. Thức khuya thì phải ngủ trưa một chút để bù lại... nhưng đâu có được. Thiệt tình không được!
Ở nơi khỉ ho cò gáy xa mút tí tè, cứ tưởng được yên thân, không ai quấy rầy, nào ngờ lại ồn ào, náo nhiệt hơn ở chợ trời nữa. Chợ trời họp sớm lắm cũng tám, chín giờ sáng. Còn ở đây người ta họp lúc trời còn khuya mịt mùng, mới độ bốn năm giờ, đêm đen còn tối mù mù. Trăm lần như một, mắt nhắm chưa được bao lâu thì bổng bị dựng đầu dậy, rải rác ở chỗ nầy chỗ kia, thiên hạ chửi nhau chí choé. Làm sao mà ngủ nghê cho được! Thiệt tình không được. Nghĩ mà giận... nhưng cũng không biết giận ai? Giận thằng cha hàng xóm vô duyên cứ lải nhải hoài, hay là giận mấy người ngồi chò hõ ở mấy cục đá ngoài kia, hay là giận ông trưởng trại Bidong bất nhơn, không chịu cất nhà cầu để người ta gây lộn nhau hoài ?
Cả đảo chứa gần bốn chục ngàn người chen chúc đông nghẹt, vậy mà không có lấy một cái nhà cầu để giải quyết vấn đề vệ sinh cho toàn trại. Làm sao bây giờ, cái gì cũng có thể xếp hồ sơ, để dành thủng thỉnh giải quyết sau, chớ cái vụ đó ...đâu có để dành được. Thành ra cứ mỗi buổi sáng sớm trời còn tờ mờ, bất kể nam phụ lão ấu, ai nấy đều lang thang kiếm nơi chưn trời góc biển thích hợp đâu đó, để giải quyết bầu tâm sự mang nặng trong đêm. Còn chỗ nào lý tưởng hơn chỗ nầy, vừa xa hàng xóm đông đúc, tránh được những cặp mắt tò mò, vừa có đủ mọi tiện nghi. Ở ngoài mé nước, những tảng đá bằng phẳng, nằm mấp mô trên mặt sóng như những lưng rùa, cục nhỏ cục to, như đang mời mọc khách hành quá bộ bước sang. Đâu còn chỗ nào tốt hơn nữa. Không lẽ mỗi sáng sớm, lại cong lưng chạy tuốt lên đỉnh núi,... sao kịp!
Cho nên tìm được chỗ gần mà tốt nầy, cả đảo ai cũng vui mừng nhưng cũng có một số không vui. Đó là mấy người chủ lều lân cận và mấy tay đi ngủ nhờ, như tôi. Vui làm sao nổi. Gió đâu có thổi từ đất liền ra biển mà lúc nào cũng nhè từ ngoài biển thổi ngược vô. Cái đó mới là vấn đề. Đồng ý là gió biển, tuy có mát mẻ nhưng không được thơm tho cho lắm. Đó là nói về sự chịu đựng của cái lỗ mũi, còn nói về khổ sở của cặp mắt, thì quả thật, cảnh tượng, nói chung không được thẩm mỹ chút nào... Nhưng tôi đâu có thèm ngó tới ngó lui, mấy cái cảnh xấu xí đó làm gì, tuy vậy hai lỗ tai cứ bắt buộc phải nghe cái giọng chói lói của anh bạn hàng xóm, mỗi sáng cất lên như một điệp khúc, nhắc đi nhắc lại hoài chỉ có bấy nhiêu... nghe mà bực mình:
-Ê, ê cha nội, đi tránh chỗ khác, bộ hết chỗ rồi hả, trước lều tôi như vầy mà anh ngồi tỉnh bơ, coi có được không ?
Cũng cái câu nầy, anh nói hàng trăm lần, hằng ngàn lần, tôi nghe hoài, thiếu điều muốn thuộc lòng. Lúc nào cũng bắt đầu như vầy - ê, ê cha nội, nếu là đàn ông, còn nếu là đàn bà thì có thay đổi chút ít - ê, ê, chị kia ! Nhưng dầu là đàn ông hay đàn bà hay con nít. câu kinh nhựt tụng đó đều chấm dứt bằng lời nhận xét, phê bình ... -coi có được không?
Có lẽ câu nầy khá hiệu nghiệm nên anh ta lập đi lập lại hoài.
Nhưng sáng nay, anh hành xóm khó chịu gặp phải một thằng cha lỳ;
-Ê ép cái gì, anh nghĩ coi cả đảo không có một cái cầu, không đi đây thì đi đâu ?
Anh hàng xóm tức mình:
-Đi đâu thì kệ anh chớ, tôi đâu có hưởn mà kiếm chỗ chỉ cho anh...Yêu cầu anh đi chỗ khác cho tôi nhờ !
Câu nói tuôn ra đầy bực tức gận dỗi nhưng hình như cục diện vẫn trơ ra, không có gì thay đổi, nên anh chủ lều bực quá, buông thỏng một câu:
-Vậy mà cũng đòi làm... dân Mỹ !
Tôi nghe qua, kêu trời một tiếng, bật cười to, tỉnh ngủ hẵn, định lay Trung dậy. Nhè đâu Trung cũng đã thức tự nãy giờ, nằm cười hăng hắc.
Tôi chọc Trung:
-Hình như chú Út xin đi Mỹ phải không ? Cũng may tôi chọn Canada, khỏi bị thằng cha chủ nhà nói xỏ nói xiêng ! Ai xin đi Mỹ thì rán chịu...
Hai anh em nằm cười cho đã một hồi rồi lồm cồm ngồi dậy, kiếm tờ báo vụn ...rủ nhau làm cái việc mà thằng cha chủ lều vừa chửi. Nhưng tôi đâu có dại mà lựa chỗ gần nhà. Trời còn tối hù, tôi và Trung lò mò leo lên những bực đá cao hơn, xuyên qua một đám cây thấp mọc cỡ ngang đầu, rồi tới một đám trúc nhỏ xíu, rồi leo ra tận mõm đá cheo leo. Tới đây là...tận cùng trái đất! Biển ở tuốt xa dưới kia, ngó xuống chóng mặt. Tôi chợt thấy ở ngoài khơi, sáng nay có thêm một chiếc tàu lạ, to lớn sừng sững trắng toát, tới đây hồi nào, tôi không hay biết, đậu im lìm. Ngó kỹ hơn, tôi thấy trên ống khói cao chót vót, lá cờ Pháp ba màu xanh trắng đỏ được kéo cao, bay phần phật trong gió sớm.
Tôi chỉ cho Trung:
-Tàu bịnh viện Ile de Lumière tới rồi nè Trung ơi ! Mấy ngày trước trên loa phóng thanh có nhắc tới, Bidong mình sẽ có một tàu bịnh viện của Pháp tới... chắc nó rồi.
Trung đứng ngó chiếc tàu, nói:
-Lớn quá sức, chắc là máy móc tối tân lắm. Từ bên Tây mà qua thẳng tới đây một mạch, ngon lành. Có nó tới, người tỵ nạn mình cũng đỡ khổ. Ở đảo, nhiều người bịnh nặng, phải mổ xẻ hay sanh nở khó khăn, phải chờ đưa qua Trengganu thiệt là vất vả. Chiếc tàu lớn quá, đã thiệt. Thấy nó, đâm muốn bịnh để được xuống dưới coi chơi cho biết !
Tôi vừa tìm chỗ tốt, vừa lẩm bẩm:
-Thiệt tình hết chuyện muốn, lại muốn bịnh, tôi không ham rồi đa !
Trung ngồi cách tôi chừng năm thước xa, hai anh em đối đáp om sòm không sợ ai nghe thấy. Mỏm đá cheo leo, ngó xuống biển sâu hun hút. Nơi đây xa quá, lại khó leo trèo nên ít người lui tới, cách biệt hàng xóm dưới kia một góc trời. Tôi ngồi thoải mái, yên chí ngắm chiếc tàu lạ ...
*
* *
Tiếng loa phóng thanh đưa xa văng vẳng... ‘Yêu cầu quí vị trưởng trại và trưởng các khối ra tiếp phái đoàn của tàu bịnh viện Pháp mới đến..’ Trung nghe xong, nói vọng qua tôi:
-Giờ nầy còn sớm quá, chắc quí vị trách nhiệm của trại còn đang ngồi thơ thẩn ở một tảng đá chênh vênh nào đó, cũng có thể đang chờ để xách nước giếng không chừng....
Tôi ngồi ở trên cao nhìn xuống, cảnh như trong tranh vẽ, những lớp sóng nhỏ đều đặn, lăn tăn như vảy cá. Nước xanh thăm thẳm. Chiếc tàu sơn màu trắng tinh, lớn như toà lâu đài nên phải đậu xa bờ chừng ba trăm thước. Cây cầy supply chỉ dành riêng cho các ghe nhỏ. Nhìn lá cờ lớn phất phới trên vùng trời Bidong, lòng tôi cảm động, sung sướng rạt rào. Người tỵ nạn Việt Nam không còn cô đơn. Trên thế giới đã có biết bao nhiêu cõi lòng nhơn ái mở rộng, đã có biết bao quốc gia đón chờ, đã có biết bao người hy sinh cả công lẫn của... như chiếc Ile de Lumière nầy !
Ở trên đảo, dưới những tàn dừa cao chót vót, người ta tụ tập ra bờ cát càng lúc càng đông. Tin chiếc tàu bịnh viện đến đảo là một niềm vui lớn. Cả đảo thức dậy trong nỗi hân hoan. Từ hội trường đến chưn cầu supply, chỗ nào cũng người là người. Tuy ở rất xa, nhưng hình như tôi nghe được trong đám đông xôn xao, chuyển động đó, tiếng rộn ràng của niềm tin yêu, hy vọng, chứa chan. Tiếng loa kêu gọi quí vị điều hành trại ra đón khách vẫn còn tiếp tục vang vang.
Đây rồi, trong trại đã dùng chiếc ca nô cảnh sát Mã Lai trắng, sơn chữ xanh quen thuộc, chở độ bốn người ăn mặc chỉnh tề, lướt sóng ào ào chạy thẳng ra tàu lớn. Lần đầu tiên ở đảo, tôi thấy có người mặc áo tay dài cài khuy, vạt bỏ trong quần, cổ thắt cà vạt đàng hoàng, thoạt trông thấy lạ hết sức nhưng có điều tôi không biết là quí vị đó mang giày hay mang dép? Nếu có chắc là dép cao su, vì nếu mang giày da cứng thì làm sao mà đi trên cát hoặc đứng trên ghe chông chênh ?
Khi gần đến nơi, chiếc ca nô chậm bớt tốc lực, chạy từ từ cập vào hông tàu. Tự nhiên bên hông tàu cao vút như bức tường trắng toát, mở ra một cánh cửa rộng hoác. Một chiếc ca nô khá lớn, sơn màu vàng tươi mát từ bên trong tàu lớn chạy ra. Ngộ quá, ngộ quá ! Lần đầu tiên tôi thấy cảnh nầy, kêu lên:
-Đã quá hả Trung, tàu lớn mà lại tối tân. Chiếc ca nô trong bụng nó chạy ra - y như tàu mẹ đẻ tàu con...
Trung cũng đang theo dõi mê mang. Trên ca nô khách, có tây đầm lố nhố cả chục người. Sao kỳ lạ vậy, mấy người Pháp ở trần trùi trụi mặc quần cụt, mấy cô đầm tuy có mặc áo nhưng ngắn lắm. Nhìn lướt qua hai ghe, thấy hai cảnh tương phản nhau. Một bên đâu có quần áo bao nhiêu, cũng rán kiếm mà bận vô, một bên có rất nhiều nhưng chừng như nóng quá, họ cởi ra gần hết. Cũng tại khí hậu xích đạo của đảo!
Cuộc gặp gỡ quá đơn giản, không có bắt tay, không có chào cờ, không có diễn văn khai mạc, không có cảnh ôm hôn thắm thiết...chỉ có khoác tay thay lời chào hỏi, rồi thôi. Ghe chủ dẫn đường đi trước, ghe khách theo sau về đảo. Trên ghe khách, ai cũng có máy quay phim, máy chụp hình, quay chụp liên hồi. Hai ghe đảo một vòng lớn để quành về. Ghe trước lướt nhanh vun vút, có lẽ vì thói quen nghề nghiệp của cảnh sát Mã chuyên rượt
bắt ghe buôn lậu nên lướt sóng rất khéo. Sau đuôi, bọt trắng xoá, vẽ một vòng tròn. Anh tài công nào đó chắc cố ý biểu diễn một màn lả lướt cho tài công Tây lé mắt chơi. Nào ngờ, ghe khách không theo ghe chủ, nó đi chầm chậm, cặp theo ghềnh đá... đúng y boong chỗ tôi và Trung đang ngồi thơ thẩn.
Trời đất quỉ thần ơi ! trên ghe có bao nhiêu máy quay phim, máy chụp hình, đều hướng về hai đứa chụp lia chụp liạ. Tụi nó chụp cái gì vậy ? Hổng lẻ chụp bụi tre hay cục đá kế bên! Chắc là lần đầu tiên tới Bidong gặp cảnh lạ, bên Tây làm gì có được cảnh ngộ như vậy. Tôi không biết xoay trở ra sao ngồi yên thì bị chụp nguyên con, mà đứng dậy thì cũng không được. Thiệt tình không được! Túng quá, tôi bèn hỏi Trung :
-Trung, Trung ! Tụi nó đang quay phim anh em mình kìa, phải làm sao ?
Trung phản ứng thiệt lẹ, nói to:
- Lấy giấy báo che mặt đi, đừng thèm che chỗ khác. Nó muốn chụp gì đó thì chụp, đem về bển, có ai biết anh đâu mà sợ!
Nghe lời Trung nói, tôi thấy cách giải quyết như vậy là ổn thoả, vội lấy tờ giấy đang cầm trên tay che lên mặt. Cạnh bên Trung vừa che vừa cười khúc khích. Tôi lẩm bẩm:
-Bị người ta chụp hình ... vậy mà còn cười được ! Thiệt tình, tôi muốn độn thổ...
Chiếc ca nô đã đi xa. Tôi và Trung đứng dậy đi về. Trung vừa đi vừa nói:
-Mấy anh công dân Mỹ ngồi bậy hồi sáng cũng chưa ngon lành bằng tụi mình. Họ bất quá cũng chỉ có một hai chủ lều biết tới, còn anh với tôi thế nào cũng được cả thế giới chiêm ngưỡng...
- Trời, đừng nói giỡn chớ cha !
-Thì anh suy nghĩ đi, bộ mấy con đầm, mấy thằng tây đó quay phim rồi bỏ hả ? Thế nào nó cũng đem rửa ra, đem về bên Tây họp báo khoe là ở Bidong... như vầy, như vầy nè... rồi biết đâu không chừng in hình anh trong sách.
Tôi dậm chưn dậm cẳng, tức mình cằn nhằn:
-Sao mà xui xẻo, chắc tại ở gần thằng cha chủ lều vô duyên, tối ngày cứ trù ẻo hoài...làm sao mà khá được. ! Thôi, rán chạy lẹ về để coi cho rõ...
Chiếc ca nô đã cặp cầu supply, phái đoàn được hường dẫn vô đảo. Trên bãi cát trắng thường ngày bây giờ đã đen nghẹt, người là người, chật cứng không còn nhúc nhích được nữa. Bao nhiêu người ở bờ biển Bidong sáng ngày mười chín, tháng tư, năm bảy mươi chín nầy ? Có thể hai chục ngàn, ba chục ngàn hay nhiều hơn nữa! Cả một biển người, tạo thành những cơn sóng chuyển động, vẫy tay đón chào, vui mừng, tin tưởng. Họ đang chào đón những vị ân nhân đến từ phương trời xa thẳm. Những tiếng hoan hô vang dội, vui mừng, tin yêu, trên những gương mặt hốc hác, đen đúa nhưng rạng rỡ. Đảo hôm nay bị chìm ngập trong những đôi mắt mở lớn, những cánh tay vẫy chào, những tiếng kêu hy vọng...
Còn gì nữa. Còn những dòng lệ ấm áp chảy tràn lan trên má của mấy cô đầm. Tôi thấy mấy cô lấy khăn tay ra lau nước mắt. Rồi tới mấy ông tây quay phim, họ đang để máy xuống, tay tìm khăn... Tôi đứng ngây người ra cạnh gốc dừa, lòng xúc động tràn ngập. Những người ngoại quốc nầy là những ai ? Họ ở tận góc biển chưn trời nào? Có ai bắt buộc họ phải từ bỏ nếp sống đầy đủ, êm ái, từ bỏ gia đình cha mẹ, vợ con, công ăn việc làm... chấp nhận thiếu thốn, gian khổ, lặn lội qua vùng đất xa xôi, hẻo lánh nầy, để giúp đỡ chăm sóc cho những người không hề quen biết ? Yếu tố nào đã thúc đẩy cho họ hy sinh dấn bước ? Phải chăng đó là tiếng gọi thôi thúc từ trái tim nhân ái bao la của con người, xúc động trước nỗi đau thương cùng cực của con người. Trong tình thương, đâu có sự phân biệt màu da, tiếng nói, cũng đâu có sự ngăn cách địa phương... hay bất cứ điều gì. Tấm lòng của họ lớn lao như biển cả, trái tim của họ ngời ngời như ánh sáng. Nhơn loại sở dĩ còn tồn tại đến ngày hôm nay là nhờ những con người vĩ đại như vậy đó! Nếu không thì, trái đất nặng nề đầy tham dục nầy đã bể nát từ lâu rồi... từ lâu rồi !
*
* *
Và cũng nhờ trái đất còn nguyên nên đảo Bidong cũng còn y nguyên. Mà tất cả không có gì thay đổi thì tôi phải cùng Trung chia tay nhau về nhà, để còn phụ khiêng nước với Tiến và Chiêu, công tác nầy không thể trốn lánh được! Tụi tôi là con trai đàn ông mà, không làm mấy việc năng nhọc như khiêng nước, đốn củi, sửa nhà ...thì ai làm, không lẽ để đó cho đàn bà con gái, coi sao được! Các cô cũng đâu có ngồi không. Ngoài chuyện lo bếp núc, giặt giũ... còn phải lo chuyện nghe tin tức đầu làng cuối xóm, ai đi ai ở... Giờ nầy chắc mấy em đang chờ.
Nắng đã lên cao. sáng rỡ. chợ trời đã họp từ hồi nào. Hàng hoá được bày bán trên các sạp thừa mứa thấy mà mê. Tôi cầm cái thùng đựng nước bằng ny lông trắng cỡ hai mươi lít, trống không nên nhẹ hửng, vừa đi vừa ngó mấy gian hàng bán dép. Chút nữa, khi đem nước về xong xuôi, thế nào cũng chạy ra đây mua hai đôi dép mới được, loại dép Nhựt Bổn màu xanh đỏ lốm đốm, đế cao chừng ba bốn phân tây, mỗi đôi giá hai đồng rưỡi tiền Mã. Vợ chồng tôi giày dép đều đã rách nát. Đường đi trên đảo khi thì ẩm ướt bùn sình, khi thì cát nóng như nung, khắp nơi phân người vương vãi, không có đôi dép thì không được ! Đôi dép luôn luôn mang dính ở chưn, không lúc nào rời, trừ khi leo lên gác đi ngủ. Có nhiều buổi trời mưa lớn, nước ngập tràn lan, dép trôi lềnh bềnh dưới sàn, phải tìm lượm lại, máng cẩn thận lên gốc cây. Mất dép là tốn tiền... mà tiền ở đây, làm sao để kiếm cho ra ?
Từ sáng sớm tờ mờ, chiếc tàu tiếp tế kéo cả xà lan đầy nước ngọt từ bên Trengganu qua đậu lù lù ngoài cầu. Sau đó nước được bơm thẳng vô các bồn chứa, để dọc theo bờ cát. Bồn được làm bằng plastique dầy, hình tròn, cao cỡ ngang ngực, chứa chừng bốn thước khối nước. Có tất cả độ bốn mươi bồn. Mỗi đầu người được chia tám lít, cách mỗi ngày được phát một lần. Dân chúng sắp từng hàng dài để đợi, chen lấn giành giựt nhau để lãnh nước ngọt đem về dùng. Những dòng nước trong mát, ngọt ngào quí báu. Tới phiên, tôi đưa cái thùng không cho một thanh niên phụ trách, đứng bên cạnh bồn nước. Anh ta dùng một cái thùng sắt nhỏ múc đầy nước trong lành, rót vô miệng ‘can’ ny lông trắng. Dòng nước trong ngọt ngào long lanh nắng vàng chảy vô đều đặn, có vài tia nước nhỏ tạt ra ngoài, văng tung toá trên mặt cát trắng ẩm ướt. Rồi tới phiên Tiến, Chiêu... Có tới mấy chục thanh niên lo việc phân phối nước từ sớm tới chiều. Từng đoàn người lần lượt chờ đợi, xôn xao. Một hoạt cảnh rộn ràng.
Thùng nước trở nên nặng chình chịch. Tôi vừa xách, vừa thở, bước đi chập choạng, đôi dép lệt xệt kéo lê trên cát, thùng nước nặng trì một nên. Trong hàng rào kẽm gai của đồn cảnh sát Mã Lai, có cả chục chiếc ghe buôn lậu bị bắt quả tang, chất một đống ngổn ngang, đang chờ ngày đem đi đốt bỏ. Rải rác trên đường về, nhiều người khiên những thùng nước lớn. Chợ trời có bày bán loại thùng chứa nước cỡ bốn mươi hoặc sáu mươi lít, màu đỏ. Mua loại thùng lớn nầy phải làm gióng, hai người khiêng khá nặng nề dưới ánh nắng chang chang.
Ba anh em về tới nhà. Tiến lấy ra ba bao đựng đường bằng sợi ny lông dệt thưa, xong rồi lót bên trong một bao ny lông láng kín mít, để mở miệng. Tôi đỗ nước vô đầy bao. Nhìn ba bao nước đầy nhóc, căng tròn, tôi mừng lắm. Ở đây có được nước sạch để dành uống là điều sung sướng. Nước ngọt ở đảo hiếm hoi. Ngay cả nước dùng tắm rửa, giặt gỵa hằng ngày cũng khó kiếm lắm. Ở Bidong mà không có nước ngọt thì chết khát. Nước giếng không uống được vì chất vôi quá nhiều, vả lại giếng cũng đâu có nhiều. Giếng nào cũng cạn vì người đi lấy nước quá đông. Mỗi lần quăng thùng xuống nước, múc được một phần ba. Phải đợi thật khuya, người ta đi ngủ bớt thì mới mong có nước dễ dàng....
Tiến cột chặt mấy miệng bao xong xả, đứng dậy phủi tay dáng hả hê:
-Khoẻ rồi, đầy nhóc hết, tha hồ mà đi chơi!
Chiêu cũng cười sung sướng, tôi đề nghị:
-Anh em mình trở lại hội trường, coi phái đoàn y tế Pháp
Câu nói chưa dứt thì tiếng loa phóng thanh kêu đúng số ghe tôi lãnh thực phẩm, lại léo nhéo vang lên. Chiêu buột miệng:
-Ủa, mới lãnh xong dầu ăn, rồi xà bông, kem đánh răng, bột giặt, nhang un muỗi rồi mà
Tiến lục lọi trong đống hành lý, lấy ra một cái bao lớn, nói:
-Thôi đi cho rồi, nó phát cái gì lấy cái đó... Lãnh được càng nhiều càng tốt !
Ba anh em lại kéo nhau ra bãi cát trước kho tiếp liệu. Cửa kho đã mở, các đại diện từng ghe lần lượt vô trong để nhận hàng. Tới nay, số ghe ở đảo đã được tất cả là ba trăm năm chục chiếc. Mổi đợt phát hàng thường lệ, chỉ được năm mươi ghe mà thôi. Khi nào có hàng nhận vào thì phải lo phát ngay vì nếu để chậm sẽ không đủ chỗ chứa, để tràn ra ngoài, nắng mưa sẽ làm hư mục. Bãi cát hẹp, mấy ngàn người ở trần, đứng giữa nắng chang chang, chờ tới phiên để lãnh. Tôi len lỏi giữa đám đông, thấy Tô Tỷ đương cầm sổ ghi ghi chép chép. Mỗi lần đi lãnh thực phẩm, là một dịp để cho cả ghe gặp gỡ lại nhau, ít khi thiếu mặt nào, vì ai cũng lo theo dõi loa phóng thanh, bỏ qua không lãnh thì kể như mất. Mấy tuần trước cả trại được phát gạo, đường, muối, sữa, đậu xanh, tỏi, hành, đậu phọng, cá hộp, bột nước cam, nước tương, nước mấm, trứng gà, dầu ăn...
Kể từ tuần nầy, thực phẩm được phát theo khẩu phần. Mới thoáng thấy tôi, Tô Tỷ la lớn:
-Kỳ nầy mình được phát theo khẩu phần nghe, đỡ mất công chia chác lôi thôi.
Tôi đưa tay chào anh ta, nhớ lại mấy lần trước, mỗi khi phân phối gạo, đậu, đường...nói chung là những thứ khó chia cho đồng đều, thì trăm lần như một, cả bọn gây lộn nhau như đám mổ bò. Ưa gây nhứt là thằng Cẩu Chải, rồi tới A Tài, rồi tới mấy người đàn bà. Có lần, người nhiều ngươi ít sao đó, gây nhau om sòm, thiếu điều muốn đánh lộn.
-Tô Tỷ nè, một khẩu phần gồm có món gì ?
Tô Tỷ giải thích cho tôi:
-Mỗi gói cho mỗi đầu người, ăn trong ba ngày, trong nhà có mấy người thì phát mấy gói. Kỳ nầy phát mỗi người hai gói...vậy là ăn được trong một tuần ! Tôi nói:
-Sao kỳ vậy, hai gói thì tính sáu ngày chớ, nếu tính là một tuần thì ngày thứ bảy lấy gì mà ăn.?
Tô Tỷ cười:
-Thì phỏng chừng vậy mà... Nhưng nếu hàng từ bên Trengganu chở qua không kịp hoặc không đủ thì ...mình cũng phải chịu vậy, chớ làm sao ! Dám lúc đó, một gói ăn... một tuần lắm à! Ăn đủ sống thôi chớ, bộ muốn ăn cho no sao ?
Chiêu cười ngất hỏi:
-Vậy cái gói được phát có thứ gì ở trỏng ?
Tô Tỷ cầm cuốn sổ lên, lật qua lật lại:
-Một gói có ba lon gạo, hai bao đường nhỏ, một bao muối, ba hộp cá, ba hộp đậu, ba hộp gà kho, ba gói trà hoặc cà phê, rồi hết !
Tôi tính một hơi rồi nói:
-Vậy bây giờ chỉ phát có mấy gói khẩu phần rồi dầu đâu mình chiên xào, không có đậu xanh làm giá, đậu phọng, kem đánh răng... rồi cũng không có trứng gà, cải bắp như mấy tuần trước?
Tô Tỷ trả lời:
-Cũng đâu có biết, cái nầy là tiêu chuẫn của Liên Hiệp Quốc cho mình... cho thêm cái gì thì có cái đó..mà không cho thì mình không có. Nhưng tôi nghĩ là phải có thêm....
Các bạn trong kho đã khiêng ra mấy thùng lớn chứa đầy những bao khẩu phần. Cả ghe ba trăm năm mươi hai người, được chia làm bảy tổ. Mỗi tổ có năm chục người. Anh tổ trưởng trách nhiệm việc phân phối cho đồng đều. Kỳ nầy thì yên chí. khỏi phải chia chác lôi thôi, gọn quá, cứ tính mỗi đầu người hai bao là được, các ghe ở gần cũng đã lãnh hàng ra xong. Hàng ngàn người, nói chuyện, chen lấn, giành nhau, gây náo động cả một góc trời. Nắng đã nóng như đổ lửa. Những thân người trần trụi, rám đen. Những người vượt biên một mình thì gọn lắm, chỉ nhận hai gói là xong. Còn những người đi đông cả gia đình năm bảy người thì cũng phải khiêng vác nặng nề. Tiến đã chuẫn bị trước một cái bao lớn. Vì anh em tôi quá đông, nên đựng đầy cả bao. Chiêu và tôi phải cầm thêm những bao lẻ. Vừa định về thì nghe có tiếng cự nự:
-Sao lại phát kỳ vậy, trong bao của tôi chỉ có hai hộp cá ?
Tôi quay lại, thấy chị thằng Cẩu Chải cầm cái bao đưa vô mặt Tô Tỷ. Tô Tỷ đứng đực mặt ra, không biết phải làm sao:
-Tôi đâu có biết...tôi đâu có biết. Coi lại cái bao có rách không ?
-Rách gì mà rách, còn nguyên nè ! Nị làm đại diện ghe đi lãnh hàng mà sao không ngó cho kỹ... Thiếu của tôi một hộp, nị làm sao đó thì làm, kiếm một hộp nữa đưa đây!
Trời nóng hừng hực, Tô Tỷ cực khổ cả buổi sáng, bây giờ còn bị cằn nhằn, anh ta đổ cộc:
-Chị nói tôi ngó không kỹ... vậy là chị nói tôi đui hả ? Tôi đui mà tôi làm đại diện cho chị, chị cũng đui luôn !
Nghe tới đó, tôi phát cười, vổ vai Tiến:
-Chết cha rồi, Tô Tỷ nói vậy thì tụi mình đui hết, nó đại diện cả ghe BL1648 chớ đâu phải đại diện một mình chị thằng Cẩu Chải....
Chị kia, phần bị mất hộp cá, phần bị chửi lại, xỉa xói:
-Ai đui không biết à, không đui mà sao trong gói ba hộp cá mà chỉ còn có hai, mà không thấy?
-Tôi lãnh trong kho cho cả ghe, đếm đủ bảy trăm lẻ bốn gói thôi chớ, bộ tôi rảnh lắm sao mà coi từng bao, mỗi bao mấy hộp cá, mấy hộp đậu, mấy gói đường!
Chị thằng Cẩu Chải đuối lý nhưng vẫn còn tức mình, quăng cái bao xuống đất, trước mặt Tô Tỷ:
-Nị nói nị đếm đủ mấy trăm bao hả. Vậy nị lấy cái bao nầy đi, đưa cái bao của nị cho tôi...
Tô Tỷ cứng họng, nói ngang
-Phát rồi thì thôi, không đổi ! Chị muốn đổi với ai thì đổi. Tôi không đổi...
Vừa nói, anh ta vừa nhìn qua cái bao bự Tiến đang vác ỳ ạch trên vai, ý như muốn nói
-chị muốn đổi thì đổi với thằng cha đang vác cái bao kia kìa. Tôi thấy tình trạng coi không mấy khả quan, kéo Tiến và Chiêu thoát lẹ ra khỏi vòng chiến. Ba anh em vừa đi vừa cười. Tôi đi cà nhắc vì chiếc dép đứt một bên quai. Bãi cát nóng như muốn phỏng chưn. Buổi trưa nắng nhiều nhưng gió ít. Những tàu dừa rủ xuống, im lìm như sắp héo tới nơi. Đám người đi lãnh thực phẩm từ từ tan biến trong đám đông rộn rịp, ồn ào. Thấy Tiến có vẻ mệt đi chậm chạp, tôi giành lấy cái bao vác lên vai. Ở phía ngược chiều, từ xa đi lại, hai người Pháp ở trần, da đỏ như da gà tây, đang đi với một người Việt. Cả ba vừa đi vừa nói chuyện. Chắc là vài nhân viên của tàu bịnh viện đi thăm chợ trời. Hai người da trắng nầy thấp người, không cao lớn như người Mỹ, tay cầm máy ảnh, cổ choàng một cái khăn lông, mồ hôi rịn đầy mặt.... Nắng Bidong buổi trưa nung mọi vật tan thành nước, phải rồi, da họ đỏ ửng như da gà tây... Đã vậy còn đi chưn trần.
-Tiến, Tiến, hai người nầy họ đi chưn không, làm sao chịu nổi !
Tiến và Chiêu cũng đang lom lom nhìn mấy bàn chưn để trần không giày không vớ, bụi đất Bidong đã vấy lấm lem. Không biết làm sao họ chịu đựng được những quảng đường đầy cát nóng như rang, rồi gai góc, đá sỏi, rác rến...
Chiêu nói: -Chắc da Tây dầy hơn da Việt Nam mình. Anh coi kìa, nó đi bình thường, đâu có đau đớn gì !
Mấy người Pháp đã đi khuất. Tôi kể cho Chiêu và Tiến nghe câu chuyện buổi sáng bị chụp hình trên ghềnh đá, rồi kết luận:
-Biết đâu trong máy chụp hình của hai người đó có hình của anh với Út Trung !
Nghe xong, Chiêu và Tiến xúm nhau mà cười, bình luận vang rân trên con đường hẻm đầy bóng nắng lỗ chỗ. Ở nhà chắc Duyên đang đợi buổi cơm trưa. Thức ăn sẽ có cá mòi hộp, hột gà ...như thường lệ. Cá mòi Mã Lai lõng bõng những nước, thịt lại xác xơ. Nhưng đâu có gì quan trọng. Tô Tỷ đã nói rồi mà -ăn đủ sống thôi chớ, bộ muốn ăn cho ngon sao ! Phải rồi, ở đảo Bidong chỉ cần ăn cho đủ sống và một niềm tin tưởng ở ngày mai ! Tôi quay qua nói với Tiến:
-Tiến nè, em thấy không, anh tây nào mà nghĩ được ra cái tên Ile de Lumière để đặt cho con tàu bịnh viện, thật là tuyệt vời. Muốn sống trọn vẹn với đầy đủ ý nghiã một con người, đâu phải chỉ cần có thực phẩm với thuốc men... mà còn có những thứ khác quan trọng hơn.
Tiến gật gù:
...như là ánh sáng, như là tình yêu, như là tự do... Đúng, anh nói đúng, cái tên con tàu hay quá sức!
Võ Kỳ Điền
Monday, August 1, 2011
Pulau Bidong Miền Đất Lạ - Chương 19
Chương 19:
CÔ GÁI ĐIÊN
Từ phía đồi Tôn Giáo hướng ra trùng dương xa thẳm là một vách đá dài cả trăm thước, tạo thành một bức trường thành chớn chở, giống như cánh tay trái của đảo thò ra biển cả. Những khối đá đen xì rong rêu to nhỏ chồng chất ngổn ngang. Đất đai khô cằn. Tội nghiệp mấy thứ cây dại khẳng kheo mọc len trong kẻ đá, lựa chi nơi đây đâu có được bao nhiêu đất đai mầu mỡ, lại còn phải đưa lưng hứng chịu những cơn gió bão điên cuồng từ ngoài khơi thổi vô. Cây nào cũng cong queo xác xơ còi cọc. Nhưng đâu phải nơi đây chỉ có đá và cây. Cả tháng nay ngày nào đảo cũng tiếp nhận thêm cả ngàn người tỵ nạn ở các hải đảo lân cận đổ về, ngày một nhiều. Chỗ nào cũng đen nghẹt người ta. Những chiếc lều mới đua nhau mọc lên vội vã như nấm gặp mưa luồng. Lều mọc cheo leo ở bãi cát, chen lấn nhau ở sườn đồi, trèo trên hốc núi và bây giờ những căn lều con con ngập ngừng dọ dẫm từng bước lan dần ra tới ghềnh đá, ven biển xa xôi.
Nép mình bên một tảng đá lớn, có một cái lều vừa được dựng lên mới tinh. Ở chỗ cưa cắt thịt cây còn ướt tươi xanh, đầu đinh dấu mới, rỉ sét vàng ẻo. Mặt lều quay ra bờ nước, lưng dựa vào vách đá thiên nhiên, ở vị trí nầy, vừa tiện đường lấy nước vừa tha hồ ngắm gió mát trăng thanh trên biển. Chủ nó, anh Tư Trần Hưng Đạo vừa mới mua được với giá ba trăm. Cái biệt thự cũ ở khu A chật chội quá không đủ chỗ cho mấy đứa nhỏ nhúc nhích, nói chi đến chuyện dành riêng cho anh Tư, chị Tư cục cựa, nên hai ông bà quyết định xài sang, sắm thêm căn lều mới, di tản chiến thuật đám lỏi con lóc nhóc ra đây. Thiệt là tiện lợi đôi bề. Hôm ăn mừng tân gia, Sơn trực thấy lều ở vị trí sơn thủy hữu tình, buột miệng khen:
-Người có tiền bao giờ cũng sướng hơn người… không có tiền!
Cả đám nghe Sơn phán một câu… đúng quá sức, xúm nhau mà cười. Thằng Dân ‘gì đó’ suy nghĩ ra sao không biết, thủng thỉnh nói:
-Mà người không có tiền, chơi với người có tiền cũng sướng lây gì đó!
Chị Tư vừa háy Dân, vừa nói:
-Chú Dân gì đó bữa nay nói chuyện cũng khéo léo quá sức! Vậy anh chị rủ mấy chú khi nào trời nóng nực cứ tự nhiên ra đây mà ngủ cho mát…
Út Trung xen vô:
-Cứ tự nhiên coi như là lều của mình!
Anh Tư máy cày cười:
-Ừ, ừ, mấy bạn đừng ngại gì hết nghen. Mấy em còn nhỏ quá, có người lớn coi chừng dùm anh chị yên tâm. Lều rộng mênh mông, tha hồ mà lăn…
Do vậy mà những đêm trăng sáng trời trong, tôi ôm mùng mền chiếu gối thả lang thang ra nhà mát Vũng Tàu ngủ nhờ. Ở đó, tôi thường gặp Út Trung hay Dân gì đó để nói dóc cho vui, vừa tha hồ ngắm cảnh biển cả về đêm lồng lộng ánh trăng cho đã thèm, biết đâu nhờ đó mà hồn thơ lai láng, tứ thơ dào dạt… Tôi thấy trăng thì cũng có đôi khi nhưng thấy mấy anh em của khối tiếp liệu làm việc nhiều hơn. Ở trước lều nhìn ra thì thấy cầu supply chạy dài ra biển. Các ghe tàu tiếp tế hoạt động không ngừng. Cạnh cầu, một dãy nhà kho chứa hàng hóa được cất dọc theo bờ biển. Nhân viên tình nguyện của khối đông gần cả ngàn người, mỗi ngày thay phiên nhau làm việc liên tục chuyển hàng từ tàu lớn xuống ghe, từ ghe nhỏ lên cầu tàu rồi dùng xe cút kít đẩy vào kho. Từ sớm mơi cho tới chiều tối, những đoàn người khuân vác chuyên chở nối đuôi nhau đi về, như đàn kiến tha mồi vào tổ, đông nghẹt chen chúc nhau. Khối tiếp liệu còn phải lo cung cấp thực phẩm, nước uống, vật dụng cho khoảng bốn chục ngàn người. Số lượng hàng hóa nhiều kinh khủng, chất cao như núi, nhưng nhu cầu cũng lại quá lớn. Hình như hàng cung cấp chưa đủ dùng… Không bao giờ đủ hết! Ở Bidong, có bao giờ đủ đâu!
Cứ mỗi vài tuần cả trại được tiếp tế cá, thịt bò (Mã Lai theo Hồi Giáo, cấm ăn thịt heo) hoặc rau cải tươi thì phải chuyển hàng từ ghe vô liền và phát ngay tại chỗ, nếu để lâu thịt cá sẽ ươn thối. Do đó các món nầy thường được phân phối về đêm. Ở trên nhà mát Vũng Tàu nhìn xuống kho hàng tiếp liệu, đèn đuốc sáng rực. Người chờ đợi đông nghẹt dưới bãi cát. Vì ở quá xa, cảnh vật dường như nhỏ lại, tôi tưởng chừng như đó là sân banh rộng, trẻ em đang chen chúc giành coi hát bóng ngoài trời. Buổi chiều khi đi ngang qua đám đông đang chờ đợi tới phiên để lãnh gà đông lạnh, tôi chợt nghe có tiếng người kêu:
-Thầy, thầy…
Hình như ai đó kêu tôi, tôi dừng bước ngó quanh. Một thiếu phụ còn trẻ từ xa rẽ đám đông đi tới. Tôi khựng lại, đúng là cô ta kêu tôi. Cô còn trẻ lắm, chừng độ hai bảy, hai tám là nhiều. Người cô nhỏ quá như bị chìm trong đám đông. Tôi rán lục lọi trong mớ trí nhớ -người quen hay học trò cũ? Nét mặt tuy đẹp nhưng đầy vẻ phong trần.
-Chắc thầy không nhận ra em. Em là Nguyễn, ngày xưa học ở Hoàng Diệu lớp Đệ Nhị…
Nguyễn học Hoàng Diệu ở lớp Đệ Nhị? Tôi rời Sóc Trăng đã trên mười mấy năm rồi còn gì, thiệt tình không nhớ ra. Cái trí nhớ lãng đãng. Ở Hoàng Diệu có mấy ngàn học sinh mỗi năm, làm sao nhớ cho hết…
Cô ta nguớc nhìn tôi. Ánh mắt như cuốn hút, như van lơn -thầy hãy rán nhớ, rán nhớ…
Tôi không thể để lộ nét vô tình, bèn đáp ngập ngừng: -Ờ, ờ, tôi nhớ ra rồi, em học lớp Đệ Nhị A1. Quách Mỹ Lợi làm trưởng lớp phải không?
Người học trò cũ mừng rỡ kêu lên:
-Thầy nhớ hay quá, em cứ sợ thầy quên. Hồi đó thầy dạy Việt Văn, thầy Long cao dạy Lý Hóa, thầy Bình dạy Toán…
Tôi tiếp theo:
-Trong lớp có Trần Đông Triều hát hay, có ca sĩ Diệu Thanh, có thi sĩ Triều Uyên Phượng của thi văn đoàn Sông Hậu…
Nguyễn hình như đoán được là tôi chỉ nhớ có chừng đó, nên nhắc thêm vài chi tiết:
-Em ngồi ở bàn thứ nhì, cạnh Túy Lan, thầy nhớ không, Túy Lan đó!
Tôi chợt nhớ ra:
-Đúng rồi, đúng rồi. Hồi đó, em nhỏ xíu. Phải nhà em ở đường giữa, đối diện tiệm mì Á Đông?
Nguyễn mừng rỡ nói tía lia:
-Vậy là thầy đã nhớ ra em. Hồi còn đi học vui quá, chỉ biếc chơi giỡn, làm biếng ghê bị các thầy cô la hoài. em sợ nhứt là Toán với Lý Hóa…
Tôi nheo mắt:
-Còn môn Văn?
-Cũng sợ luôn. Có một lần làm Luận Văn em dở sách ra chép, bị thầy nói lạc đề…
Như một cái máy phát thanh tôi vặn đúng tần số, cô học trò cũ nhắc liên miên những ngày còn cắp sách đến trường. Có lẽ Nguyễn và tôi đều có chung một hoàn cảnh, một kỷ niệm. Tôi cũng vui lây niềm vui của Nguyễn, tai lắng nghe những mẫu chuyện không đầu không đuôi được kể vội vàng.
Bên tai tiếng Nguyễn vẫn đều đều:
… hồi đó thầy Long lùn cưới chị Sơn Mai ở lớp Đệ Tam, cả trường xôn xao dễ sợ. Tụi em đoán sau thầy Long là…
Tôi chận ngay: -Ai vậy?
Nguyễn cười lém lỉnh, nhìn tôi nói tỉnh rụi:
-Tới thầy chớ ai. Cả tỉnh ai cũng biết thầy với Túy Lan thương nhau mà!
Cái tên Túy Lan vừa được nhắc tới khiến tôi bàng hoàng. Tôi cười khỏa lấp, láy sang câu chuyện khác:
-Em lập gia đình chưa? Sang đây một mình hay đi với gia đình?
-Dạ thưa, em đi qua đây có một mình. Nhà em bị đi học tập. Thầy nhớ Trương ở Đệ Nhứt B1 không? Ảnh đậu xong Tú Tài rồi được vô Không Quân… rồi bị bắt cho tới giờ. Em chờ hoài không biết sống chết ra sao, không tin tức gì hết, nên đành phải ra đi…
Tôi nhớ Trương rất rõ, người ốm ốm dong dỏng cao, tánh khí cứng cỏi ngang tàng. Ông Tổng Giám Thị nhiều phen điên đầu với anh ta..
Tôi hỏi tiếp:
-Em qua được bao lâu rồi, được nước nào nhận chưa?
-Dạ đi hồi tháng tám năm ngoái, lúc trại Bidong nầy mới mở, tính đến nay cũng đã bảy tám tháng rồi, đã được phái đòan Mỹ phỏng vấn, còn phải chờ người bên đó bảo lãnh mới được đi. Em chờ hoài, chờ hoài, nhiều khi tuyệt vọng muốn điên luôn. Thầy biết không, ở đảo một ngày là khổ một ngày, em một thân một mình, không chồng con anh em kế bên nương tựa. Bây giờ bất cứ nước nào nhận là em cũng đi liền. Nhiều khi em nghĩ ra đủ mọi cách để được đi cho lẹ. Cách nào cũng được…
Nghe Nguyễn nói, tôi ái ngại hết sức Thiệt tội cho Nguyễn, chồng đi học tập chết sống ra sao chưa biết, một thân một mình bơ vơ nơi đất lạ quê người. Làm sao mà xoay trở, tôi nghĩ không ra. Nhìn vào đôi mắt nai ngơ ngác của Nguyễn, tôi thấy cả bầu trời tối đen thăm thẳm. Cô học trò quá bé nhỏ ốm yếu của tôi ngày nào, làm sao chống đỡ những khó khăn tuyệt vọng vây quanh? Những ngọn đèn vàng vọt chấp chóa, gió thổi rào rào trên những đọt dừa. Tôi cố nén tiếng thở dài, nhìn ra tận đàng xa. Tất cả là màn đêm thăm thẳm, mịt mùng. Ôi! Những người học trò cũ, đáng thương của tôi. Nguyễn ơi! Trương ơi! Tôi chia tay Nguyễn để về lều Tư Trần Hưng Đạo, chưn bước mà không biết mình đang đi. Có cái gì chua xót, dằng dặc, mang mang vương vấn. Ở đảo Bidong nầy đâu phải chỉ có mình Nguyễn… đâu phải chỉ có mình Nguyễn! Hàng ngàn, hàng ngàn thiếu phụ xa chồng xa con, cam lòng chịu đựng biết bao oan nghiệt đổ ập xuống thân phận ốm yếu còm cõi. Nói sao cho xiết! Không lẽ con người được sanh ra chỉ để chịu đựng nỗi khổ đau?
Buổi tối nước thủy triều dâng cao, sóng đánh tạt lên tới chơn đồi., bãi cát còn hẹp té Tôi phải bước trên những tảng đá cao khỏi mặt nước. Nước biển về đêm phản chiếu ánh đèn vàng như những đốm lửa nhỏ lao xao. Út Trung đang ngồi thơ thẩn một mình ở ngạch cửa. Mấy đứa nhỏ đã ngủ. Căn lều tối thui. Tôi lò dò leo lên thang ngồi cạnh Trung. Đầu óc còn mang mang hình dáng nhỏ nhắn của Nguyễn. Phía dưới kho tiếp liệu, đám đông còn bu quanh ánh đèn như con thiêu thân. Nguyễn đang đứng ở chỗ nào? và nàng còn phải chờ đợi bao lâu nữa?
Út Trung quay qua tôi, hỏi:
-Anh có chuyện gì mà hôm nay ra trễ quá vậy?
-Ờ, ờ, giữa đường gặp một cô học trò cũ, thầy trò vui miệng nhắc lại chuyện học hành ngày xưa…
Trung cười hà hà chọc tôi:
-Biết ngay mà, mấy ông thầy giáo hơn người khác là ở chỗ đó. Em mà có dịp về sống ở Việt Nam… cũng rán xin đi dạy học.
Tôi trả đũa liền:
-Chú Út tính vậy là trật rồi nghe hôn. Tôi mà được trở về thì học nghề kỹ sư canh nông chớ không thèm làm gíáo sư dạy học nữa đâu, khổ lắm. Làm kỹ sư như chú Út, ít ra cũng dễ kiếm… ruộng mà cày, còn thầy giáo như tôi kiếm một miếng đất cắm dùi cũng trầy vi tróc vảy. Thiên hạ hễ thấy thầy giáo làm cái gì cũng bàn ra tán vô. Thầy giáo cũng y như thầy tu…
-Trời ơi, anh nói quá. Ai cấm anh, người đẹp cả trường, anh không chọn được cô nào sao? Hễ gặp ông nào dạy học, cũng rên là kiếm vợ không ra. Ai mà tin… Cuối cùng thì thầy nào thầy nấy cưới vợ đẹp thấy mồ…
Nghe Trung nói tới đây tôi chợt mỉm cười. Cũng như Nguyễn đã nói khi nãy -thầy với Túy Lan thương nhau ai cũng biết mà. Lời khẳng định như đinh đóng cột, vô phương cạy gỡ. Nhưng ở đời có nhiều chuyện tưởng vậy mà không phải vậy. Nhiều phen tôi tự đặt cho mình câu hỏi, tình yêu là gì? Cho tới bây giờ vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng.
Cái mùng lớn quá, bốn đứa nhỏ nằm chèo queo trong một góc. Tôi và Út Trung nằm chắn bên ngoài. Lều không có cửa. Gió ngoài khơi thổi tạt vách mùng nghe man mát. Út Trung đã ngủ, tôi nghe tiếng thở phập phồng. Tôi cũng muốn đêm nay ngủ một giấc thiệt say nhưng không biết vì sao cặp mắt vẫn ráo hoảnh. Tai nghe tiếng sóng ì ầm ngoài ghềnh đá mà đầu óc nhớ lan man -như một cuộn phim thời gian quay ngược. Hình ảnh còn rõ nét như mới hôm qua. Túy Lan dáng ốm cao cao ngồi cạnh Nguyễn, Nguyễn nhỏ con ốm yếu bịnh hoài. Thưở đó tôi vừa mới ra trường, đổi về Sóc Trăng dạy học. Những ngày đầu tiên tôi dạy lớp Túy Lan. Sau một buổi học, khi ra về, nàng đến gặp tôi ở cửa lớp, ngập ngừng:
-Dạ thưa, má em xin gởi đến thầy và các thầy ở chung nhà mấy cái vé hát… Rạp nầy của nhà em!
Tôi cầm mấy cái vé nho nhỏ, cám ơn:
-Nhờ em nói lại với má, thầy và các bạn cám ơn má nhiều lắm. Mà tối nay rạp hát phim gì đó, chắc là hay lắm!
Túy Lan đáp lí nhí, nửa như muốn cười mà không dám, mặt đỏ ửng:
-Dạ, dạ, ‘Hiệp Sĩ Mù Nghe Gió Kiếm’.
Tôi bật cười. Hèn chi, mới tuần trước đây vừa coi Hiệp Sĩ Mù Trừ Gian Diệt Bạo, phim Nhựt Bổn đánh kiếm hay dễ sợ, nữa đêm vãn hát về ngang nhà nàng, cả đám vừa đi vừa bìmh luận um trời, chắc má nàng ngủ không được nên biết. Sóc Trăng xa cách Sài Gòn, đám giáo sư mới ra trường, còn quá trẻ, buồn tình không biết đi đâu, thôi đành chun vô rạp xi nê, cười một hồi cho qua ngày tháng.
Do sự tình cờ đó mà tôi quen biết với gia đình nàng, rồi từ đó tôi thường lui tới thăm viếng nhiều hơn. Ba Túy Lan mất sớm, mẹ nàng ở vậy nuôi con. Bốn cô con gái đều tới tuổi dậy thì. Túy Lan là con đầu lòng rồi tới Chi Lan, Quỳnh Lan, Diễm Lan. Cũng may gia đình khá giả, mẹ nàng lại quán xuyến đảm đang. Bà lớn hơn tôi chừng hai mươi tuổi nhưng dáng còn trẻ lắm. Bốn cô Lan tuy trẻ nhưng không cô nào bì được mẹ. Túy Lan ốm nhách cao lêu khêu, Chi Lan mập phục phịch. Quỳnh Lan đen thui và Diễm Lan mắt một mí, nhỏ xíu. Phải chi mỗi cô được giống mẹ chừng phân nữa thì cũng ăn đứt thiên hạ rồi… Tỉnh lỵ Khánh Hưng nhỏ quá, chuyện gì có chút xíu, người ta cũng bàn ra tán vô. Nhứt là chuyện của mấy ông thầy giáo làm quen với học trò! Hình như bắt đầu có tiếng xầm xì đâu đó. Có lần ông tùy phái già hóm hỉnh:
-Ông giáo sư biết không, đất nầy ngộ lắm. Sóc Trăng đi dễ khó về, trai đi có vợ, gái về có con.
Thọat nghe qua là biết ông muốn ghẹo tôi có vé coi hát hoài, bèn cười mà đáp:
-Ờ, ờ, tôi cũng muốn làm rể đất nầy cho rồi, bác thấy được không?
Ông già nghe vậy chịu quá, đốc vô liền:
-Được, được, chớ sao không, mình cưới hỏi đàng hoàng mà, ai nói gì thây kệ họ. Tôi thấy có trở ngại gì đâu.
Quả tình tôi cũng thấy đâu có gì trở ngại. Nhưng hình như các nữ đồng nghiệp độc thân và các nam sinh ngày một xa cách, nói xa nói gần, tỏ vẻ khó chịu khi gặp tôi. Riêng Túy Lan thì thái độ nàng có vẻ ân cần săn sóc tôi hơn. Có cái gì khác thường trong ánh mắt, trong nụ cười. Trời, nàng tiến bộ môn Văn bất ngờ. Những bài luận mới làm khéo đến độ tôi đọc lên cả lớp ngẩn ngơ. Mà đâu chỉ có môn văn Túy Lan thay đổi. Nàng bắt đầu ăn mặc chải chuốt, trang điểm tỉ mỉ. Tôi thấy son môi nàng đỏ hồng, phấn má nàng trắng mịn. Tôi vẫn đến thăm gia đình nàng thường xuyên. Một hôm mẹ nàng trong câu chuyện hàn huyên, nói mở lời:
-Ông giáo sư bộ tính ở hoài như vậy sao nè… Có để ý tới cô nào chưa, tôi làm mai dùm cho. Tỉnh nầy tôi quen biết nhiều lắm. Đừng có lo, mình thương ai thì cứ nói… tôi tin thế nào cũng được mà…
Rồi tiếp theo, bà nói nghe dễ hết sức:
-Tôi có bốn con Lan, ai mà thương đứa nào là tôi gả liền…
Nghe bà nói tôi ngồi lặng thinh, thẩn thờ. Túy Lan, Chi Lan, Quỳnh Lan, Diễm Lan, tôi thương ai? Câu hỏi khó quá khiến tôi trăn trở nhiều đêm. Người mà tôi thương, bà không biết đâu. Mà bà không biết thì thiên hạ xung quanh làm sao biết được. Ngay cả chính lòng tôi, tôi cũng không biết mình đang yêu ai? Vậy thì làm sao để nói ra?
Tôi đổi thế nằm lăn qua một bên, gấp tay làm gối kê đầu. Cứ tưởng sẽ ngủ như mọi bận, nào ngờ cứ thao thức hoài. Chiều nay vô tình Nguyễn nhắc thoáng qua một kỷ niệm xưa, tôi đâm nhớ lại loạt phim Hiệp Sĩ Mù, nhớ lại những buổi chiều nói chuyện nắng mưa, nhớ lại ánh mắt sáng long lanh, nhớ nụ cười duyên dáng, nhớ về một góc trời Sóc Trăng, ở đó có người khiến tôi một thời xao xuyến… Tất cả như cơn gió thoảng… rồi mất hút theo năm tháng vô tình.
Tiếng Trung bắt đầu ngái lớn, Chắc anh chàng đang ngủ say. Đêm chừng khuya lắm, vạn vật im lìm. Bidong chỉ còn duy nhứt tiếng sóng cô đơn, vỗ ầm ầm vào ghềnh đá. Nước thủy triều giờ nầy chắc dâng ngập tràn bãi cát. Tôi nằm im, lắng nghe tiếng đì đùng của sóng vỗ, vang dội trong đêm trường tịch mịch. Âm thanh của sóng đều đều mang theo một chút gì êm ái vỗ về, như tiếng võng đưa, khiến lòng tôi triền miên cảm xúc. Gió bắt đầu thổi mạnh hơn, môt góc lều cột không kỹ bị gió thốc nên kêu phần phật. Có tiếng chuột chạy rần rật dưới sàn lẫn với tiếng ú ớ, chép miệng của mấy đứa nhỏ. Tôi nghe mí mắt nằng nặng sắp thiếp vào giấc ngủ nồng, bỗng giựt mình thảng thốt vì tiếng loa từ đỉnh đồi Tôn Giáo vang lên sang sảng trong đêm khuya thanh vắng:
-Đồng bào trong trại chú ý, đồng bào trong trại chú ý…
Giọng nói có vẻ gấp rút kỳ lạ. Tôi đoán thấy có chuyện gì xảy ra ở Hội Trường. Giờ nầy ít ra cũng một hai giờ khuya, lẽ nào phòng thông tin lại báo một tin bình thường, bèn lay Út Trung dậy để nghe cho rõ. Út Trung đương ngủ ngon giấc, thức dậy ú ớ:
-Cái gì vậy? Cái gì vậy?
Tôi chưa kịp trả lời thì tiếng loa vang vang:
-Vừa rồi có một cô gái, thừa lúc nhân viên canh gát không để ý đã lén xông vào hội trường, đến nơi cư ngụ tạm của các nhân viên phái đoàn ngoại quốc…
Trung la lên:
-Chết cha rồi, sao kỳ cục vậy?
-…cô ta ôm chầm lấy một nhân viên của phái đoàn Hoa Kỳ và khóc nức nở trong tình trạng điên lọan. Cũng may vị nầy đã vùng dậy kịp và tri hô lên. Các nhân viên an ninh đã giữ cô lại được. Ai là thân nhân của cô, hãy mau đến hội trường để lãnh cô về…
Tôi nằm im, miệng nói:
-Chắc là cô ta bị khủng hoảng thần kinh, tội nghiệp. Cũng may, thằng Mỹ còn đủ bình tỉnh, nếu không tưởng Việt Cộng nhào vô tấn công, nó rút súng bắn chắc chết…
Trung đáp:
-Ừ, ừ, trên đảo nầy biết bao nhiêu thảm cảnh đau thương, chết chóc… nên dễ mắc bịnh tâm trí lắm. Thiệt tình, bịnh nặng quá rồi, nửa đêm đi đâu bất nhơn vầy nè…
Tôi nghĩ đến cái hội trường có cái hàng rào bằng cây thấp, có cái cổng vuông vuông, có một dãy nhà rộng mà dài được ngăn ra nhiều phòng. Chắc mấy nhân viên của phái đoàn phỏng vấn vì làm việc quá lâu không kịp về bên Kuala Trengganu ngủ qua đêm, nên tạm thời phải ở lại Bidong. Có thể họ kê vài cái bàn làm việc của trưởng trại để nghỉ tạm, giống như chúng tôi thời còn ở trung học Hoàng Diệu, đêm đêm phải gác trường. Tôi tưởng tượng ra ở đó bây giờ có một cô gái đầu bù tóc rối, nước mắt nước mũi nhòe nhoẹt, mắt trợn ngang trợn dọc, la hét om sòm, quần áo nhăn nhúm tả tơi, đang bị mấy anh an ninh trật tự giữ tay giữ chưn chặt cứng. Anh Mỹ nào đó chắc phải một phen hú vía, mất ngủ luôn đêm nay.
Tiếng loa lại tiếp tục léo nhéo…‘vừa rồi có một cô gái… ôm chầm lấy một nhân viên…Ai là thân nhân, hãy mau đến hội trường để lãnh cô về’.
Trung nói:
-Chắc bây giờ ở hội trường người ta bu đông rần rần. Thế nào cũng có anh Tư cho mà coi, dễ gi ảnh bỏ qua chuyện hấp dẫn nầy… Mà cái điệu nầy, mai mốt phái đoàn phỏng vấn làm sao dám ở lại ban đêm…
Nói tới đó Trung lại bật cười:
-A, cái anh chàng Mỹ nào đó điên chớ đâu phải cô gái điên!
-Nói cái gì vậy, tại sao anh Mỹ lại điên?
Trung phân tách:
-Nếu cô ta điên thì làm sao đi vô trại khơi khơi được, qua hàng rào an ninh đâu có dễ. Anh thử nghĩ coi, cô ta phải khôn ngoan lắm, tính toán kỹ lưỡng mới lọt vô tới đó…
Tôi bán tín bán nghi, chống chế:
-Mấy ông nội an ninh đó mà, nửa đêm ngủ mê như chết, có ai mà để ý canh gác chi cho mất công. Ở đảo nầy có Việt Cộng đặc công gì đâu mà phải kỹ lưỡng…
-Anh nói vậy chớ, muốn vô tới chỗ ngủ của mấy anh Mỹ cũng đâu phải dễ… Cô ta có làm gì đâu, chỉ ôm anh Mỹ mà khóc. Sao gọi là điên được?
Nghe Trung nói tôi chợt lóe ra vài ý nghĩ lạ, có thể Trung có lý.
Rồi Trung cười ngất:
-Cả đảo bốn chục ngàn người nằm ngủ đầy trời, dễ quá mà, muốn ôm ai lại không được, tại sao phải chui vô hội trường, kiếm thằng Mỹ phỏng vấn mà ôm… Hà, hà… Rõ ràng thằng Mỹ điên! Nếu em là nó, em không la khi bị cô ta ôm!
Tôi ngạc nhiên:
-Thôi đi bạn, nửa đêm đương ngủ, tự nhiên có người lạ nhào vô ôm mình, không phát hoảng sao được.
-Anh la là dở, tại anh mất bình tỉnh. Em mà đương ngủ, cô nào nhào vô ôm em là em ôm lại liền… ôm cứng ngắt, khà khà…
Trung nói xong, tôi nghe cũng phì cười:
-Vậy là Trung ngon lành hơn anh xa quá!
Trung nói tiếp:
-Suy nghĩ cho cùng, anh nào viết bản tin vừa rồi là thêm mắm thêm muối kiểu mấy ông văn sĩ cho đậm đà, chớ sự thật không phải như vậy!
Tôi hỏi:
-Sai chỗ nào đâu, bản tin viết rõ ràng gẩy gọn…
-Ở chỗ ‘…ôm lấy một nhân viên phái đoàn Hoa Kỳ và khóc nức nở…’ Theo em thì có thể cô đó có ôm chầm lấy anh kia nhưng không có khóc. Tại sao khóc? Chuyện ôm và chuyện khóc khác nhau. Đến khi bị la hét xô ra và bị an ninh bắt, cô ta mới khóc nức nở vì xấu hổ. Anh thấy đúng không?
-Ờ, ờ cũng có lý à Trung. Bạn học Canh nông nghiên cứu về rau đậu, lúa má sao mà phân tách tâm lý người ta y như cảnh sát điều tra tội phạm vậy? Thí dụ như mấy lời bàn hồi nãy giờ đúng hết đi, thì câu chuyện xảy ra vừa qua, đó là cái gì?
Trung gác tay lên trán hồi lâu chậm rãi nói:
-Em không dám chắc nhưng đại khái có thể hiểu, cô ta ở đảo đã quá lâu. Cuộc sống lúng túng khổ sở, chịu đựng hết nổi rồi, cố tìm cách để được đi định cư cho lẹ. Thôi đành nửa đêm chun vô chỗ ngủ của phái đoàn phỏng vấn, năn nỉ để được đi sớm ngày nào hay ngày nấy. Nếu cần phải hy sinh… cách gì cũng chịu! Xui xẻo là gặp thằng Mỹ ngu, cũng có thể là ngôn ngữ bất đồng…
Nghe Trung phân tách rành rọt, tôi kêu lên:
-Trời, nếu đúng vậy thì thật đáng thương. Hoàn cảnh đưa đẩy đến như vậy thì thiệt là tội nghiệp!
Trung im lặng không nói nữa…Tôi cũng nằm im.. Mỗi thằng một ý nghĩ. Có những người sanh ra chỉ để chịu khổ đau, có nỗi đau nào giống nỗi đau nào! Sóng càng lúc càng lớn, tiếng ầm ầm ở ghềnh đá vang ra thăm thẳm. Tiếng sóng ở bờ Việt Nam chắc cũng nghe đau thương như ở đây, tiếng sóng của cô gái ‘điên’ đêm nay! Tội nghiệp thân phận người tỵ nạn bọt bèo, đáng thương biết bao nhiêu, ở vào hoàn cảnh trái ngang, người ta phải tìm cách vượt thoát bằng mọi lối, kể cả phải chấp nhận phải hy sinh những gì quí báu nhứt…
Bỗng nhiên Trung tiếp tục:
-Phải khen anh chàng thông tin nầy mới được. Nếu anh ta nói trên loa phóng thanh điều mà anh em mình bàn cãi hồi nãy giờ thì cô gái nầy còn mặt mũi ngó ai nữa.
Tôi đồng ý hoàn toàn:
-Ờ, ờ, hay quá, cứ cho là cô ta điên loạn rồi đưa về nhà… êm ru bà rù… Không ai đàm tiếu gì hết. Tuyệt diệu, thằng cha thông tin nầy đáng bậc sư tổ!
Hình như chưa có thân nhân nào đến nhận lãnh cô gái, tiếng loa lại tiếp tục vang vang bổ túc thêm vài chi tiết mới:
-có cô gái điên ở hội trường… ốm ốm nhỏ người, trạc cở hai mươi lăm tuổi, mặc quần dài đen, áo tím ngắn tay… ai là thân nhân…
Nghe tới đó như có luồng điện mạnh từ đỉnh đầu chạy đúng vô tim, tôi la lên:
-Trời! Chết cha rồi…
Trung ngạc nhiên:
-Cái gì mà la lối vậy ông thầy, bộ có quen với cô gái điên đó hả?
Tôi im lặng không trả lời câu hỏi của Trung. Trả lời sao được nữa. Tôi muốn ngộp thở, hai quai hàm cứng ngắt mở không ra, tim đánh bình bịch trong lồng ngực, toàn thân cứng đờ. Cái lều vững chắc như vậy mà tôi cảm thấy nó lung lay run rẩy, rồi nước mắt ở đâu không biết trào ra, ban đầu còn ít, dần dần không kìm được nữa nó chảy ra như suối. Những giọt lệ nóng hổi chảy đầy trên má, trên môi. Nước mắt chảy tràn vô miệng mặn đắng... Thầy thương em quá Nguyễn ơi… Nguyễn ơi!
VÕ KỲ ĐIỀN
CÔ GÁI ĐIÊN
Từ phía đồi Tôn Giáo hướng ra trùng dương xa thẳm là một vách đá dài cả trăm thước, tạo thành một bức trường thành chớn chở, giống như cánh tay trái của đảo thò ra biển cả. Những khối đá đen xì rong rêu to nhỏ chồng chất ngổn ngang. Đất đai khô cằn. Tội nghiệp mấy thứ cây dại khẳng kheo mọc len trong kẻ đá, lựa chi nơi đây đâu có được bao nhiêu đất đai mầu mỡ, lại còn phải đưa lưng hứng chịu những cơn gió bão điên cuồng từ ngoài khơi thổi vô. Cây nào cũng cong queo xác xơ còi cọc. Nhưng đâu phải nơi đây chỉ có đá và cây. Cả tháng nay ngày nào đảo cũng tiếp nhận thêm cả ngàn người tỵ nạn ở các hải đảo lân cận đổ về, ngày một nhiều. Chỗ nào cũng đen nghẹt người ta. Những chiếc lều mới đua nhau mọc lên vội vã như nấm gặp mưa luồng. Lều mọc cheo leo ở bãi cát, chen lấn nhau ở sườn đồi, trèo trên hốc núi và bây giờ những căn lều con con ngập ngừng dọ dẫm từng bước lan dần ra tới ghềnh đá, ven biển xa xôi.
Nép mình bên một tảng đá lớn, có một cái lều vừa được dựng lên mới tinh. Ở chỗ cưa cắt thịt cây còn ướt tươi xanh, đầu đinh dấu mới, rỉ sét vàng ẻo. Mặt lều quay ra bờ nước, lưng dựa vào vách đá thiên nhiên, ở vị trí nầy, vừa tiện đường lấy nước vừa tha hồ ngắm gió mát trăng thanh trên biển. Chủ nó, anh Tư Trần Hưng Đạo vừa mới mua được với giá ba trăm. Cái biệt thự cũ ở khu A chật chội quá không đủ chỗ cho mấy đứa nhỏ nhúc nhích, nói chi đến chuyện dành riêng cho anh Tư, chị Tư cục cựa, nên hai ông bà quyết định xài sang, sắm thêm căn lều mới, di tản chiến thuật đám lỏi con lóc nhóc ra đây. Thiệt là tiện lợi đôi bề. Hôm ăn mừng tân gia, Sơn trực thấy lều ở vị trí sơn thủy hữu tình, buột miệng khen:
-Người có tiền bao giờ cũng sướng hơn người… không có tiền!
Cả đám nghe Sơn phán một câu… đúng quá sức, xúm nhau mà cười. Thằng Dân ‘gì đó’ suy nghĩ ra sao không biết, thủng thỉnh nói:
-Mà người không có tiền, chơi với người có tiền cũng sướng lây gì đó!
Chị Tư vừa háy Dân, vừa nói:
-Chú Dân gì đó bữa nay nói chuyện cũng khéo léo quá sức! Vậy anh chị rủ mấy chú khi nào trời nóng nực cứ tự nhiên ra đây mà ngủ cho mát…
Út Trung xen vô:
-Cứ tự nhiên coi như là lều của mình!
Anh Tư máy cày cười:
-Ừ, ừ, mấy bạn đừng ngại gì hết nghen. Mấy em còn nhỏ quá, có người lớn coi chừng dùm anh chị yên tâm. Lều rộng mênh mông, tha hồ mà lăn…
Do vậy mà những đêm trăng sáng trời trong, tôi ôm mùng mền chiếu gối thả lang thang ra nhà mát Vũng Tàu ngủ nhờ. Ở đó, tôi thường gặp Út Trung hay Dân gì đó để nói dóc cho vui, vừa tha hồ ngắm cảnh biển cả về đêm lồng lộng ánh trăng cho đã thèm, biết đâu nhờ đó mà hồn thơ lai láng, tứ thơ dào dạt… Tôi thấy trăng thì cũng có đôi khi nhưng thấy mấy anh em của khối tiếp liệu làm việc nhiều hơn. Ở trước lều nhìn ra thì thấy cầu supply chạy dài ra biển. Các ghe tàu tiếp tế hoạt động không ngừng. Cạnh cầu, một dãy nhà kho chứa hàng hóa được cất dọc theo bờ biển. Nhân viên tình nguyện của khối đông gần cả ngàn người, mỗi ngày thay phiên nhau làm việc liên tục chuyển hàng từ tàu lớn xuống ghe, từ ghe nhỏ lên cầu tàu rồi dùng xe cút kít đẩy vào kho. Từ sớm mơi cho tới chiều tối, những đoàn người khuân vác chuyên chở nối đuôi nhau đi về, như đàn kiến tha mồi vào tổ, đông nghẹt chen chúc nhau. Khối tiếp liệu còn phải lo cung cấp thực phẩm, nước uống, vật dụng cho khoảng bốn chục ngàn người. Số lượng hàng hóa nhiều kinh khủng, chất cao như núi, nhưng nhu cầu cũng lại quá lớn. Hình như hàng cung cấp chưa đủ dùng… Không bao giờ đủ hết! Ở Bidong, có bao giờ đủ đâu!
Cứ mỗi vài tuần cả trại được tiếp tế cá, thịt bò (Mã Lai theo Hồi Giáo, cấm ăn thịt heo) hoặc rau cải tươi thì phải chuyển hàng từ ghe vô liền và phát ngay tại chỗ, nếu để lâu thịt cá sẽ ươn thối. Do đó các món nầy thường được phân phối về đêm. Ở trên nhà mát Vũng Tàu nhìn xuống kho hàng tiếp liệu, đèn đuốc sáng rực. Người chờ đợi đông nghẹt dưới bãi cát. Vì ở quá xa, cảnh vật dường như nhỏ lại, tôi tưởng chừng như đó là sân banh rộng, trẻ em đang chen chúc giành coi hát bóng ngoài trời. Buổi chiều khi đi ngang qua đám đông đang chờ đợi tới phiên để lãnh gà đông lạnh, tôi chợt nghe có tiếng người kêu:
-Thầy, thầy…
Hình như ai đó kêu tôi, tôi dừng bước ngó quanh. Một thiếu phụ còn trẻ từ xa rẽ đám đông đi tới. Tôi khựng lại, đúng là cô ta kêu tôi. Cô còn trẻ lắm, chừng độ hai bảy, hai tám là nhiều. Người cô nhỏ quá như bị chìm trong đám đông. Tôi rán lục lọi trong mớ trí nhớ -người quen hay học trò cũ? Nét mặt tuy đẹp nhưng đầy vẻ phong trần.
-Chắc thầy không nhận ra em. Em là Nguyễn, ngày xưa học ở Hoàng Diệu lớp Đệ Nhị…
Nguyễn học Hoàng Diệu ở lớp Đệ Nhị? Tôi rời Sóc Trăng đã trên mười mấy năm rồi còn gì, thiệt tình không nhớ ra. Cái trí nhớ lãng đãng. Ở Hoàng Diệu có mấy ngàn học sinh mỗi năm, làm sao nhớ cho hết…
Cô ta nguớc nhìn tôi. Ánh mắt như cuốn hút, như van lơn -thầy hãy rán nhớ, rán nhớ…
Tôi không thể để lộ nét vô tình, bèn đáp ngập ngừng: -Ờ, ờ, tôi nhớ ra rồi, em học lớp Đệ Nhị A1. Quách Mỹ Lợi làm trưởng lớp phải không?
Người học trò cũ mừng rỡ kêu lên:
-Thầy nhớ hay quá, em cứ sợ thầy quên. Hồi đó thầy dạy Việt Văn, thầy Long cao dạy Lý Hóa, thầy Bình dạy Toán…
Tôi tiếp theo:
-Trong lớp có Trần Đông Triều hát hay, có ca sĩ Diệu Thanh, có thi sĩ Triều Uyên Phượng của thi văn đoàn Sông Hậu…
Nguyễn hình như đoán được là tôi chỉ nhớ có chừng đó, nên nhắc thêm vài chi tiết:
-Em ngồi ở bàn thứ nhì, cạnh Túy Lan, thầy nhớ không, Túy Lan đó!
Tôi chợt nhớ ra:
-Đúng rồi, đúng rồi. Hồi đó, em nhỏ xíu. Phải nhà em ở đường giữa, đối diện tiệm mì Á Đông?
Nguyễn mừng rỡ nói tía lia:
-Vậy là thầy đã nhớ ra em. Hồi còn đi học vui quá, chỉ biếc chơi giỡn, làm biếng ghê bị các thầy cô la hoài. em sợ nhứt là Toán với Lý Hóa…
Tôi nheo mắt:
-Còn môn Văn?
-Cũng sợ luôn. Có một lần làm Luận Văn em dở sách ra chép, bị thầy nói lạc đề…
Như một cái máy phát thanh tôi vặn đúng tần số, cô học trò cũ nhắc liên miên những ngày còn cắp sách đến trường. Có lẽ Nguyễn và tôi đều có chung một hoàn cảnh, một kỷ niệm. Tôi cũng vui lây niềm vui của Nguyễn, tai lắng nghe những mẫu chuyện không đầu không đuôi được kể vội vàng.
Bên tai tiếng Nguyễn vẫn đều đều:
… hồi đó thầy Long lùn cưới chị Sơn Mai ở lớp Đệ Tam, cả trường xôn xao dễ sợ. Tụi em đoán sau thầy Long là…
Tôi chận ngay: -Ai vậy?
Nguyễn cười lém lỉnh, nhìn tôi nói tỉnh rụi:
-Tới thầy chớ ai. Cả tỉnh ai cũng biết thầy với Túy Lan thương nhau mà!
Cái tên Túy Lan vừa được nhắc tới khiến tôi bàng hoàng. Tôi cười khỏa lấp, láy sang câu chuyện khác:
-Em lập gia đình chưa? Sang đây một mình hay đi với gia đình?
-Dạ thưa, em đi qua đây có một mình. Nhà em bị đi học tập. Thầy nhớ Trương ở Đệ Nhứt B1 không? Ảnh đậu xong Tú Tài rồi được vô Không Quân… rồi bị bắt cho tới giờ. Em chờ hoài không biết sống chết ra sao, không tin tức gì hết, nên đành phải ra đi…
Tôi nhớ Trương rất rõ, người ốm ốm dong dỏng cao, tánh khí cứng cỏi ngang tàng. Ông Tổng Giám Thị nhiều phen điên đầu với anh ta..
Tôi hỏi tiếp:
-Em qua được bao lâu rồi, được nước nào nhận chưa?
-Dạ đi hồi tháng tám năm ngoái, lúc trại Bidong nầy mới mở, tính đến nay cũng đã bảy tám tháng rồi, đã được phái đòan Mỹ phỏng vấn, còn phải chờ người bên đó bảo lãnh mới được đi. Em chờ hoài, chờ hoài, nhiều khi tuyệt vọng muốn điên luôn. Thầy biết không, ở đảo một ngày là khổ một ngày, em một thân một mình, không chồng con anh em kế bên nương tựa. Bây giờ bất cứ nước nào nhận là em cũng đi liền. Nhiều khi em nghĩ ra đủ mọi cách để được đi cho lẹ. Cách nào cũng được…
Nghe Nguyễn nói, tôi ái ngại hết sức Thiệt tội cho Nguyễn, chồng đi học tập chết sống ra sao chưa biết, một thân một mình bơ vơ nơi đất lạ quê người. Làm sao mà xoay trở, tôi nghĩ không ra. Nhìn vào đôi mắt nai ngơ ngác của Nguyễn, tôi thấy cả bầu trời tối đen thăm thẳm. Cô học trò quá bé nhỏ ốm yếu của tôi ngày nào, làm sao chống đỡ những khó khăn tuyệt vọng vây quanh? Những ngọn đèn vàng vọt chấp chóa, gió thổi rào rào trên những đọt dừa. Tôi cố nén tiếng thở dài, nhìn ra tận đàng xa. Tất cả là màn đêm thăm thẳm, mịt mùng. Ôi! Những người học trò cũ, đáng thương của tôi. Nguyễn ơi! Trương ơi! Tôi chia tay Nguyễn để về lều Tư Trần Hưng Đạo, chưn bước mà không biết mình đang đi. Có cái gì chua xót, dằng dặc, mang mang vương vấn. Ở đảo Bidong nầy đâu phải chỉ có mình Nguyễn… đâu phải chỉ có mình Nguyễn! Hàng ngàn, hàng ngàn thiếu phụ xa chồng xa con, cam lòng chịu đựng biết bao oan nghiệt đổ ập xuống thân phận ốm yếu còm cõi. Nói sao cho xiết! Không lẽ con người được sanh ra chỉ để chịu đựng nỗi khổ đau?
Buổi tối nước thủy triều dâng cao, sóng đánh tạt lên tới chơn đồi., bãi cát còn hẹp té Tôi phải bước trên những tảng đá cao khỏi mặt nước. Nước biển về đêm phản chiếu ánh đèn vàng như những đốm lửa nhỏ lao xao. Út Trung đang ngồi thơ thẩn một mình ở ngạch cửa. Mấy đứa nhỏ đã ngủ. Căn lều tối thui. Tôi lò dò leo lên thang ngồi cạnh Trung. Đầu óc còn mang mang hình dáng nhỏ nhắn của Nguyễn. Phía dưới kho tiếp liệu, đám đông còn bu quanh ánh đèn như con thiêu thân. Nguyễn đang đứng ở chỗ nào? và nàng còn phải chờ đợi bao lâu nữa?
Út Trung quay qua tôi, hỏi:
-Anh có chuyện gì mà hôm nay ra trễ quá vậy?
-Ờ, ờ, giữa đường gặp một cô học trò cũ, thầy trò vui miệng nhắc lại chuyện học hành ngày xưa…
Trung cười hà hà chọc tôi:
-Biết ngay mà, mấy ông thầy giáo hơn người khác là ở chỗ đó. Em mà có dịp về sống ở Việt Nam… cũng rán xin đi dạy học.
Tôi trả đũa liền:
-Chú Út tính vậy là trật rồi nghe hôn. Tôi mà được trở về thì học nghề kỹ sư canh nông chớ không thèm làm gíáo sư dạy học nữa đâu, khổ lắm. Làm kỹ sư như chú Út, ít ra cũng dễ kiếm… ruộng mà cày, còn thầy giáo như tôi kiếm một miếng đất cắm dùi cũng trầy vi tróc vảy. Thiên hạ hễ thấy thầy giáo làm cái gì cũng bàn ra tán vô. Thầy giáo cũng y như thầy tu…
-Trời ơi, anh nói quá. Ai cấm anh, người đẹp cả trường, anh không chọn được cô nào sao? Hễ gặp ông nào dạy học, cũng rên là kiếm vợ không ra. Ai mà tin… Cuối cùng thì thầy nào thầy nấy cưới vợ đẹp thấy mồ…
Nghe Trung nói tới đây tôi chợt mỉm cười. Cũng như Nguyễn đã nói khi nãy -thầy với Túy Lan thương nhau ai cũng biết mà. Lời khẳng định như đinh đóng cột, vô phương cạy gỡ. Nhưng ở đời có nhiều chuyện tưởng vậy mà không phải vậy. Nhiều phen tôi tự đặt cho mình câu hỏi, tình yêu là gì? Cho tới bây giờ vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng.
Cái mùng lớn quá, bốn đứa nhỏ nằm chèo queo trong một góc. Tôi và Út Trung nằm chắn bên ngoài. Lều không có cửa. Gió ngoài khơi thổi tạt vách mùng nghe man mát. Út Trung đã ngủ, tôi nghe tiếng thở phập phồng. Tôi cũng muốn đêm nay ngủ một giấc thiệt say nhưng không biết vì sao cặp mắt vẫn ráo hoảnh. Tai nghe tiếng sóng ì ầm ngoài ghềnh đá mà đầu óc nhớ lan man -như một cuộn phim thời gian quay ngược. Hình ảnh còn rõ nét như mới hôm qua. Túy Lan dáng ốm cao cao ngồi cạnh Nguyễn, Nguyễn nhỏ con ốm yếu bịnh hoài. Thưở đó tôi vừa mới ra trường, đổi về Sóc Trăng dạy học. Những ngày đầu tiên tôi dạy lớp Túy Lan. Sau một buổi học, khi ra về, nàng đến gặp tôi ở cửa lớp, ngập ngừng:
-Dạ thưa, má em xin gởi đến thầy và các thầy ở chung nhà mấy cái vé hát… Rạp nầy của nhà em!
Tôi cầm mấy cái vé nho nhỏ, cám ơn:
-Nhờ em nói lại với má, thầy và các bạn cám ơn má nhiều lắm. Mà tối nay rạp hát phim gì đó, chắc là hay lắm!
Túy Lan đáp lí nhí, nửa như muốn cười mà không dám, mặt đỏ ửng:
-Dạ, dạ, ‘Hiệp Sĩ Mù Nghe Gió Kiếm’.
Tôi bật cười. Hèn chi, mới tuần trước đây vừa coi Hiệp Sĩ Mù Trừ Gian Diệt Bạo, phim Nhựt Bổn đánh kiếm hay dễ sợ, nữa đêm vãn hát về ngang nhà nàng, cả đám vừa đi vừa bìmh luận um trời, chắc má nàng ngủ không được nên biết. Sóc Trăng xa cách Sài Gòn, đám giáo sư mới ra trường, còn quá trẻ, buồn tình không biết đi đâu, thôi đành chun vô rạp xi nê, cười một hồi cho qua ngày tháng.
Do sự tình cờ đó mà tôi quen biết với gia đình nàng, rồi từ đó tôi thường lui tới thăm viếng nhiều hơn. Ba Túy Lan mất sớm, mẹ nàng ở vậy nuôi con. Bốn cô con gái đều tới tuổi dậy thì. Túy Lan là con đầu lòng rồi tới Chi Lan, Quỳnh Lan, Diễm Lan. Cũng may gia đình khá giả, mẹ nàng lại quán xuyến đảm đang. Bà lớn hơn tôi chừng hai mươi tuổi nhưng dáng còn trẻ lắm. Bốn cô Lan tuy trẻ nhưng không cô nào bì được mẹ. Túy Lan ốm nhách cao lêu khêu, Chi Lan mập phục phịch. Quỳnh Lan đen thui và Diễm Lan mắt một mí, nhỏ xíu. Phải chi mỗi cô được giống mẹ chừng phân nữa thì cũng ăn đứt thiên hạ rồi… Tỉnh lỵ Khánh Hưng nhỏ quá, chuyện gì có chút xíu, người ta cũng bàn ra tán vô. Nhứt là chuyện của mấy ông thầy giáo làm quen với học trò! Hình như bắt đầu có tiếng xầm xì đâu đó. Có lần ông tùy phái già hóm hỉnh:
-Ông giáo sư biết không, đất nầy ngộ lắm. Sóc Trăng đi dễ khó về, trai đi có vợ, gái về có con.
Thọat nghe qua là biết ông muốn ghẹo tôi có vé coi hát hoài, bèn cười mà đáp:
-Ờ, ờ, tôi cũng muốn làm rể đất nầy cho rồi, bác thấy được không?
Ông già nghe vậy chịu quá, đốc vô liền:
-Được, được, chớ sao không, mình cưới hỏi đàng hoàng mà, ai nói gì thây kệ họ. Tôi thấy có trở ngại gì đâu.
Quả tình tôi cũng thấy đâu có gì trở ngại. Nhưng hình như các nữ đồng nghiệp độc thân và các nam sinh ngày một xa cách, nói xa nói gần, tỏ vẻ khó chịu khi gặp tôi. Riêng Túy Lan thì thái độ nàng có vẻ ân cần săn sóc tôi hơn. Có cái gì khác thường trong ánh mắt, trong nụ cười. Trời, nàng tiến bộ môn Văn bất ngờ. Những bài luận mới làm khéo đến độ tôi đọc lên cả lớp ngẩn ngơ. Mà đâu chỉ có môn văn Túy Lan thay đổi. Nàng bắt đầu ăn mặc chải chuốt, trang điểm tỉ mỉ. Tôi thấy son môi nàng đỏ hồng, phấn má nàng trắng mịn. Tôi vẫn đến thăm gia đình nàng thường xuyên. Một hôm mẹ nàng trong câu chuyện hàn huyên, nói mở lời:
-Ông giáo sư bộ tính ở hoài như vậy sao nè… Có để ý tới cô nào chưa, tôi làm mai dùm cho. Tỉnh nầy tôi quen biết nhiều lắm. Đừng có lo, mình thương ai thì cứ nói… tôi tin thế nào cũng được mà…
Rồi tiếp theo, bà nói nghe dễ hết sức:
-Tôi có bốn con Lan, ai mà thương đứa nào là tôi gả liền…
Nghe bà nói tôi ngồi lặng thinh, thẩn thờ. Túy Lan, Chi Lan, Quỳnh Lan, Diễm Lan, tôi thương ai? Câu hỏi khó quá khiến tôi trăn trở nhiều đêm. Người mà tôi thương, bà không biết đâu. Mà bà không biết thì thiên hạ xung quanh làm sao biết được. Ngay cả chính lòng tôi, tôi cũng không biết mình đang yêu ai? Vậy thì làm sao để nói ra?
Tôi đổi thế nằm lăn qua một bên, gấp tay làm gối kê đầu. Cứ tưởng sẽ ngủ như mọi bận, nào ngờ cứ thao thức hoài. Chiều nay vô tình Nguyễn nhắc thoáng qua một kỷ niệm xưa, tôi đâm nhớ lại loạt phim Hiệp Sĩ Mù, nhớ lại những buổi chiều nói chuyện nắng mưa, nhớ lại ánh mắt sáng long lanh, nhớ nụ cười duyên dáng, nhớ về một góc trời Sóc Trăng, ở đó có người khiến tôi một thời xao xuyến… Tất cả như cơn gió thoảng… rồi mất hút theo năm tháng vô tình.
Tiếng Trung bắt đầu ngái lớn, Chắc anh chàng đang ngủ say. Đêm chừng khuya lắm, vạn vật im lìm. Bidong chỉ còn duy nhứt tiếng sóng cô đơn, vỗ ầm ầm vào ghềnh đá. Nước thủy triều giờ nầy chắc dâng ngập tràn bãi cát. Tôi nằm im, lắng nghe tiếng đì đùng của sóng vỗ, vang dội trong đêm trường tịch mịch. Âm thanh của sóng đều đều mang theo một chút gì êm ái vỗ về, như tiếng võng đưa, khiến lòng tôi triền miên cảm xúc. Gió bắt đầu thổi mạnh hơn, môt góc lều cột không kỹ bị gió thốc nên kêu phần phật. Có tiếng chuột chạy rần rật dưới sàn lẫn với tiếng ú ớ, chép miệng của mấy đứa nhỏ. Tôi nghe mí mắt nằng nặng sắp thiếp vào giấc ngủ nồng, bỗng giựt mình thảng thốt vì tiếng loa từ đỉnh đồi Tôn Giáo vang lên sang sảng trong đêm khuya thanh vắng:
-Đồng bào trong trại chú ý, đồng bào trong trại chú ý…
Giọng nói có vẻ gấp rút kỳ lạ. Tôi đoán thấy có chuyện gì xảy ra ở Hội Trường. Giờ nầy ít ra cũng một hai giờ khuya, lẽ nào phòng thông tin lại báo một tin bình thường, bèn lay Út Trung dậy để nghe cho rõ. Út Trung đương ngủ ngon giấc, thức dậy ú ớ:
-Cái gì vậy? Cái gì vậy?
Tôi chưa kịp trả lời thì tiếng loa vang vang:
-Vừa rồi có một cô gái, thừa lúc nhân viên canh gát không để ý đã lén xông vào hội trường, đến nơi cư ngụ tạm của các nhân viên phái đoàn ngoại quốc…
Trung la lên:
-Chết cha rồi, sao kỳ cục vậy?
-…cô ta ôm chầm lấy một nhân viên của phái đoàn Hoa Kỳ và khóc nức nở trong tình trạng điên lọan. Cũng may vị nầy đã vùng dậy kịp và tri hô lên. Các nhân viên an ninh đã giữ cô lại được. Ai là thân nhân của cô, hãy mau đến hội trường để lãnh cô về…
Tôi nằm im, miệng nói:
-Chắc là cô ta bị khủng hoảng thần kinh, tội nghiệp. Cũng may, thằng Mỹ còn đủ bình tỉnh, nếu không tưởng Việt Cộng nhào vô tấn công, nó rút súng bắn chắc chết…
Trung đáp:
-Ừ, ừ, trên đảo nầy biết bao nhiêu thảm cảnh đau thương, chết chóc… nên dễ mắc bịnh tâm trí lắm. Thiệt tình, bịnh nặng quá rồi, nửa đêm đi đâu bất nhơn vầy nè…
Tôi nghĩ đến cái hội trường có cái hàng rào bằng cây thấp, có cái cổng vuông vuông, có một dãy nhà rộng mà dài được ngăn ra nhiều phòng. Chắc mấy nhân viên của phái đoàn phỏng vấn vì làm việc quá lâu không kịp về bên Kuala Trengganu ngủ qua đêm, nên tạm thời phải ở lại Bidong. Có thể họ kê vài cái bàn làm việc của trưởng trại để nghỉ tạm, giống như chúng tôi thời còn ở trung học Hoàng Diệu, đêm đêm phải gác trường. Tôi tưởng tượng ra ở đó bây giờ có một cô gái đầu bù tóc rối, nước mắt nước mũi nhòe nhoẹt, mắt trợn ngang trợn dọc, la hét om sòm, quần áo nhăn nhúm tả tơi, đang bị mấy anh an ninh trật tự giữ tay giữ chưn chặt cứng. Anh Mỹ nào đó chắc phải một phen hú vía, mất ngủ luôn đêm nay.
Tiếng loa lại tiếp tục léo nhéo…‘vừa rồi có một cô gái… ôm chầm lấy một nhân viên…Ai là thân nhân, hãy mau đến hội trường để lãnh cô về’.
Trung nói:
-Chắc bây giờ ở hội trường người ta bu đông rần rần. Thế nào cũng có anh Tư cho mà coi, dễ gi ảnh bỏ qua chuyện hấp dẫn nầy… Mà cái điệu nầy, mai mốt phái đoàn phỏng vấn làm sao dám ở lại ban đêm…
Nói tới đó Trung lại bật cười:
-A, cái anh chàng Mỹ nào đó điên chớ đâu phải cô gái điên!
-Nói cái gì vậy, tại sao anh Mỹ lại điên?
Trung phân tách:
-Nếu cô ta điên thì làm sao đi vô trại khơi khơi được, qua hàng rào an ninh đâu có dễ. Anh thử nghĩ coi, cô ta phải khôn ngoan lắm, tính toán kỹ lưỡng mới lọt vô tới đó…
Tôi bán tín bán nghi, chống chế:
-Mấy ông nội an ninh đó mà, nửa đêm ngủ mê như chết, có ai mà để ý canh gác chi cho mất công. Ở đảo nầy có Việt Cộng đặc công gì đâu mà phải kỹ lưỡng…
-Anh nói vậy chớ, muốn vô tới chỗ ngủ của mấy anh Mỹ cũng đâu phải dễ… Cô ta có làm gì đâu, chỉ ôm anh Mỹ mà khóc. Sao gọi là điên được?
Nghe Trung nói tôi chợt lóe ra vài ý nghĩ lạ, có thể Trung có lý.
Rồi Trung cười ngất:
-Cả đảo bốn chục ngàn người nằm ngủ đầy trời, dễ quá mà, muốn ôm ai lại không được, tại sao phải chui vô hội trường, kiếm thằng Mỹ phỏng vấn mà ôm… Hà, hà… Rõ ràng thằng Mỹ điên! Nếu em là nó, em không la khi bị cô ta ôm!
Tôi ngạc nhiên:
-Thôi đi bạn, nửa đêm đương ngủ, tự nhiên có người lạ nhào vô ôm mình, không phát hoảng sao được.
-Anh la là dở, tại anh mất bình tỉnh. Em mà đương ngủ, cô nào nhào vô ôm em là em ôm lại liền… ôm cứng ngắt, khà khà…
Trung nói xong, tôi nghe cũng phì cười:
-Vậy là Trung ngon lành hơn anh xa quá!
Trung nói tiếp:
-Suy nghĩ cho cùng, anh nào viết bản tin vừa rồi là thêm mắm thêm muối kiểu mấy ông văn sĩ cho đậm đà, chớ sự thật không phải như vậy!
Tôi hỏi:
-Sai chỗ nào đâu, bản tin viết rõ ràng gẩy gọn…
-Ở chỗ ‘…ôm lấy một nhân viên phái đoàn Hoa Kỳ và khóc nức nở…’ Theo em thì có thể cô đó có ôm chầm lấy anh kia nhưng không có khóc. Tại sao khóc? Chuyện ôm và chuyện khóc khác nhau. Đến khi bị la hét xô ra và bị an ninh bắt, cô ta mới khóc nức nở vì xấu hổ. Anh thấy đúng không?
-Ờ, ờ cũng có lý à Trung. Bạn học Canh nông nghiên cứu về rau đậu, lúa má sao mà phân tách tâm lý người ta y như cảnh sát điều tra tội phạm vậy? Thí dụ như mấy lời bàn hồi nãy giờ đúng hết đi, thì câu chuyện xảy ra vừa qua, đó là cái gì?
Trung gác tay lên trán hồi lâu chậm rãi nói:
-Em không dám chắc nhưng đại khái có thể hiểu, cô ta ở đảo đã quá lâu. Cuộc sống lúng túng khổ sở, chịu đựng hết nổi rồi, cố tìm cách để được đi định cư cho lẹ. Thôi đành nửa đêm chun vô chỗ ngủ của phái đoàn phỏng vấn, năn nỉ để được đi sớm ngày nào hay ngày nấy. Nếu cần phải hy sinh… cách gì cũng chịu! Xui xẻo là gặp thằng Mỹ ngu, cũng có thể là ngôn ngữ bất đồng…
Nghe Trung phân tách rành rọt, tôi kêu lên:
-Trời, nếu đúng vậy thì thật đáng thương. Hoàn cảnh đưa đẩy đến như vậy thì thiệt là tội nghiệp!
Trung im lặng không nói nữa…Tôi cũng nằm im.. Mỗi thằng một ý nghĩ. Có những người sanh ra chỉ để chịu khổ đau, có nỗi đau nào giống nỗi đau nào! Sóng càng lúc càng lớn, tiếng ầm ầm ở ghềnh đá vang ra thăm thẳm. Tiếng sóng ở bờ Việt Nam chắc cũng nghe đau thương như ở đây, tiếng sóng của cô gái ‘điên’ đêm nay! Tội nghiệp thân phận người tỵ nạn bọt bèo, đáng thương biết bao nhiêu, ở vào hoàn cảnh trái ngang, người ta phải tìm cách vượt thoát bằng mọi lối, kể cả phải chấp nhận phải hy sinh những gì quí báu nhứt…
Bỗng nhiên Trung tiếp tục:
-Phải khen anh chàng thông tin nầy mới được. Nếu anh ta nói trên loa phóng thanh điều mà anh em mình bàn cãi hồi nãy giờ thì cô gái nầy còn mặt mũi ngó ai nữa.
Tôi đồng ý hoàn toàn:
-Ờ, ờ, hay quá, cứ cho là cô ta điên loạn rồi đưa về nhà… êm ru bà rù… Không ai đàm tiếu gì hết. Tuyệt diệu, thằng cha thông tin nầy đáng bậc sư tổ!
Hình như chưa có thân nhân nào đến nhận lãnh cô gái, tiếng loa lại tiếp tục vang vang bổ túc thêm vài chi tiết mới:
-có cô gái điên ở hội trường… ốm ốm nhỏ người, trạc cở hai mươi lăm tuổi, mặc quần dài đen, áo tím ngắn tay… ai là thân nhân…
Nghe tới đó như có luồng điện mạnh từ đỉnh đầu chạy đúng vô tim, tôi la lên:
-Trời! Chết cha rồi…
Trung ngạc nhiên:
-Cái gì mà la lối vậy ông thầy, bộ có quen với cô gái điên đó hả?
Tôi im lặng không trả lời câu hỏi của Trung. Trả lời sao được nữa. Tôi muốn ngộp thở, hai quai hàm cứng ngắt mở không ra, tim đánh bình bịch trong lồng ngực, toàn thân cứng đờ. Cái lều vững chắc như vậy mà tôi cảm thấy nó lung lay run rẩy, rồi nước mắt ở đâu không biết trào ra, ban đầu còn ít, dần dần không kìm được nữa nó chảy ra như suối. Những giọt lệ nóng hổi chảy đầy trên má, trên môi. Nước mắt chảy tràn vô miệng mặn đắng... Thầy thương em quá Nguyễn ơi… Nguyễn ơi!
VÕ KỲ ĐIỀN
Pulau Bidong Miền Đất Lạ - Chương 18
Chương 18 :
HẢI ĐẢO BUỒN LÂU BI ĐÁT
Chúng tôi gồm bốn người lớn và mấy đứa con nít đi một dọc dài, len theo con đường mòn dẫn lên triền đồi cao. Đường dốc cheo leo, hẹp té, hai người đi sóng đôi nhau là thấy chật. Đất ở đây thuộc loại đất sét dẻo quánh, vàng ẻo. Vì nhiều người qua lại, nên mặt đường được nện cứng phẳng lì, thỉnh thoảng có những lạch nước nhỏ chảy ngang, những người lân cận sắp những khúc cây lượm được đâu đó, làm thành những chiếc cầu tạm bợ. Hai bên đường là những chiếc lều đủ mọi kiểu vở, kích thước. Rải rác cũng còn những cây to xanh lá, đứng len lỏi giữa những đám lều chen chúc nhau như những cây nấm lớn, những cây nầy còn lại được là nhờ nó to quá người ta thấy không thể dùng được vào việc gì, hơn nữa muốn đốn lấy củi cũng không phải dễ dàng. Tôi đi thong thả cạnh anh Tư:
-Đảo Bidong ai nói nhỏ đâu, sao đi hoài không tới vầy nè?
Anh Tư Trần Hưng Đạo, tay ôm cái khăn lông lớn, miệng trả lời:
-Cũng tại bồ chọn cái bãi nầy. Phải chi mình tắm ở bãi sau, khu C thì gần hơn khỏi phải đi xa…
Sơn nói tiếp:
-Bãi sau dơ thấy mồ. Người tắm đông quá nên bừa bãi, rác rến tùm lum, tắm đâu có đã. Nó chỉ sạch hơn bãi trước khu A một chút thôi. Mình chịu khó đi xa nhưng tắm đã hơn…
Dân gì đó góp ý:
-Bãi sau dơ thì có dơ gì đó, chớ tắm cũng được lắm chớ. Mình vừa lội vừa nghe nhạc ở trong mấy cái quán cà phê, có cô Thanh Thúy, Khánh Ly, Hoàng Oanh… gì đó hát, nghe cũng đỡ ghiền!
Tư Trần Hưng Đạo quay lại:
-Có nhạc nghe thì cũng được đi, nhưng ngặt hai cái quán Tình Nhớ với Cà Phê Mây chung một vách ny lông, mỗi quán lớn bằng cái lỗ mũi mà lại mua máy thu thanh quay băng loại lớn, từ sớm mơi tới chiều tối, cả hai đều mở âm thanh hết mức, mỗi lần ngồi nghe y như Hùng Cường gây lộn với Chế Linh, Thanh Thúy khóc đua với Thanh Tuyền, nghe muốn điếc con ráy luôn. Tao đoán thế nào có ngày hai thằng cha chủ quán cũng xăng tay áo đánh lộn.
Tôi xen vô:
-Kệ nó, vậy thì nghe một lượt, lỗ tai bên nầy nghe giọng cao, lỗ tai bên kia nghe giọng thấp, để bù lại những ngày sống âm thầm với tụi răng đen mã tấu, tối ngày nghe mấy cái giọng the thé của ca sĩ Hà Nội, ớn tới xương sống. Nhưng ở quán, khoái nhứt là cái món nước đá lạnh. Không biết họ mua ở đâu được nước đá hay quá, có điều khá mắc, một lon Coca hay Seven Up tới hai đồng, cà phê thứ tan liền một đồng rưỡi. Ngồi nhấp nháp ly cà phê đá, ngó ra ngoài khơi thấy mấy cụm mây trắng lãng đãng tưởng Việt Nam mình ở phía dưới đó, đâm nhớ nhà hết sức…
Đường càng lúc càng lên cao chỗ lồi chỗ lõm. Lều đã thưa bớt, nhường chỗ cho cây xanh. Cây lớn cây nhỏ mọc chi chít, chen nhau. Bên dốc đứng, một cây cỡ hai người ôm bị cơn giông lớn thổi trốc gốc, ngã ập dựa lưng vào vách đá, gốc rễ trơ ra tua tủa, bên dưới tạo thành một cái hố sâu hoắm, ngó phát rùng mình. Có vài miếng rẫy nhỏ xíu của những chủ lều lân cận trồng rau dền, rau muống. Chắc mới trồng nên những lá non nhỏ chưa che được hết đất đen. Cọng rau nhỏ ốm yếu tong teo như thân phận người tỵ nạn bọt bèo. Tôi nhìn đám rau nghĩ thương nó, rồi thương chủ nó, rồi đâm ra thương mình! Cái thân ăn đậu ở nhờ, làm sao mà khá được!
Đường đi đã xuống thấp, chúng tôi bước e dè trên những bực đá thiên nhiên. Cục nhô ra cục thụt vào. Qua khỏi một rặng cây, biển đã hiện ra trước mắt. Một vùng biển xanh rì, bãi cát sóng vỗ trắng xóa. Mấy đứa nhỏ con anh Tư thấy nước, mừng rỡ chạy đuổi bắt nhau trên bãi cát trắng, la đùa chí chóe. Cảnh trí thật hùng vĩ. Giữa rừng cây đá núi, một bãi cát trắng ngời ngời sóng nước. Hằng trăm người đang bơi lội nô đùa.
Tư Trần Hưng Đạo khều tôi, nói nhỏ:
-Ê bồ, ngó coi mấy nàng kiều nữ đảo Bidong nè, đã không?
Trên mé nước có vài thiếu nữ trẻ đẹp mặc áo tắm bó sát người, phô bày hết vẻ đẹp của tấm thân ngọc ngà, đi qua đi lại trước hàng trăm cặp mắt ngắm nghía, trầm trồ. Đâu có ai đoán được ở đảo Bidong lại có cảnh như ở Vũng Tàu. Tôi hỏi anh Tư:
-Đố anh, mấy bộ áo tắm nầy từ Mỹ gởi qua cho, hay là mấy cô đó vượt biên đem theo?
-Vượt biên thì không phải rồi. Đi vượt biên run thót ruột, có ai mà nghĩ tới việc tắm biển, tắm sông gì. Một hai bộ quần áo để đổi thay là đủ, đâu phải du lịch. Chắc là bên Tây bên Mỹ thân nhân gởi qua cho.
Tôi và Sơn đồng ý:
-Ừ, ừ, có lý, tôi cũng nghĩ như vậy. Mấy bộ đồ nầy kiểu mới quá, chưa chắc gì ở Sài Gòn có được…
Dân gì đó nhăn răng vàng cười khì khì:
-Đoán trật lất hết trơn. Cái nầy là của họ vượt biên đem theo gì đó. Chớ ở bên Mỹ có gởi thì gởi cho tiền, chớ ai hơi đâu mà gởi ba cái thứ quỉ nầy, tui thấy mấy đứa con gái của Hủ Tiếu cũng có gì đó…
Tư Trần Hưng Đạo trố mắt:
-Cái thằng nầy, chuyện đàn bà con gái người ta, mầy rình mò hồi nào mà biết hết ráo vậy?
Dân gì đó giải thích:
-Tui đâu có rình mò gi đó. Hủ Tiếu biểu tui khiêng hành lý xuống ghe cho Mã Lai xét, thằng ti đu nó lục tứ tung, tui thấy. Mấy người chủ ghe họ đem theo đồ đạc nhiều lắm như dọn nhà, chớ đâu phải như tụi mình gì đó.
Nói xong nó nghĩ là chưa ai tin, bèn tiếp:
-Mấy anh có vợ có con nên không biết, mấy thanh niên trẻ trẻ gì đó, họ vừa vượt biên vừa kéo xe bò…
Sơn nghe tới ba chữ ‘kéo xe bò’ không hiểu gi hết, la lên:
-Tao cũng là thanh niên nè,… mà đâu có kéo xe bò!
Cả đám xúm nhau cười vang. Tiếng sóng đập ầm ầm vô vách đá cũng không át được tiếng cười đùa. Ở bãi nầy, sóng lớn quá, từ ngoài khơi từng lượn cao như cái nhà, ồ ạt xô đẩy nhau chạy vào bờ, cuộn vào trong lòng nước bao nhiêu là sỏi đá, tan dần trên mí cát, hết đợt nầy đến đợt kia, không dứt.
Dân gì đó nắm lấy tay tôi:
-Hồi đó, ở trong trường tụi học sinh hẹn hò với bên lớp con gái, rủ nhau đi chơi thì kêu là ‘lá nĩu xớ’ tiếng Việt dịch là kéo xe bò gì đó…
Tôi thấy ngồ ngộ, bèn hỏi:
-Sao đọc trong sách, không thấy ai nói đến mấy chữ nầy. Tại sao không nói là kéo xe ngựa mà nói là kéo xe bò?
Dân cười:
-Tui đâu có biết, học trường Tàu có nhiều tiếng khác truờng Việt, tụi nó đặt ra để chọc ghẹo gì đó… con trai đi chơi với con gái thì kêu là kéo xe bò, kéo xe bò…
Tư Trần Hưng Đạo xen vô, thêm mắm thêm muối:
-Đúng rồi, đúng rồi. Hẹn hò thì phải cà rịch cà tang ngắm mây ngắm nước, càng chậm càng tốt, chớ đâu có chạy lồng lên như ngựa được. Vậy mấy bồ đoán coi, mấy con bò thì ở đây rồi, còn mấy anh kéo xe bò ở đâu?
Tôi nghe hỏi đưa mắt nhìn quanh. Rải rác trên bờ có năm ba thanh niên ngồi nói chuyện. Trên một gộp đá cao, một người lớn tuổi ngồi câu cá, im lìm như pho tượng. Chắc mấy anh kéo xe bò còn lặn hụp dưới nước, nô đùa với sóng.
Bỗng Sơn nắm lấy tay tôi, chỉ chỏ:
-Coi kìa,.. cái ghe… ngộ quá!
Tôi nhìn theo hướng Sơn chỉ, thấy ở tận đàng xa một cái ghe nhỏ xíu lớn bằng cái hộp đang trồi hụp trên sóng lớn. Trời, đó là cái ghe sao? nó nhỏ quá, thấy mà phát sợ. Biển cả thì mênh mông, sóng nước chập chùng. Cái ghe như chiếc lá khô, nhô lên hụp xuống càng lúc càng đến gần bờ nhưng cũng không thấy lớn hơn bao nhiêu. Có một người cầm chèo đang bơi tận lực. Những cử động hai tay vun vút đưa mái chèo thoăn thoắt nhịp nhàng, chiếc ghe tiến tới rất nhanh. Ồ lạ quá, tôi đã thấy rõ. Sao kỳ lạ vậy? Sao cái ghe lại cháy đen, hư hao gần phân nửa…
Dân gì đó la lên:
-Cái ghe bị cháy gì đó. Cái lỗ lớn quá…
Đám đông đang bơi lội nô đùa, thấy chiếc ghe lạ lùng bèn trố mắt ùa lên bãi cát để coi cho rõ. Cái ghe được đóng sơ sài bằng cây, hình chữ nhựt, dài chừng hai thước, ngang một thước, cao khoảng năm sáu tấc, mới nhìn qua thiệt tình, giống y như... cái hòm! Không biết tại sao dưới lườn lại bị cháy đen, khuyết một lỗ trống hốc, mất đi phân nửa đáy. Anh lái ghe vì sợ nước vô, ghe chìm nên cố ngồi tuốt ra phía sau, dồn hết sức nặng của thân người để đè xuống, chiếc ghe chổng ngược lên, nhờ đó nó còn nổi được trên sóng và lướt tới trước lẹ hơn. Một hình ảnh tuyệt vời của con người nhỏ nhoi nhưng đầy can đãm, chống chỏi với cái bao la hung dữ của sóng gió trùng dương. Tôi thấy cái hộp bằng cây đó, được chèo rất nhanh, lướt phăng phăng tới. Anh bạn chèo ghe ở trần, mặc chiếc quần xà lỏn đen, râu tóc dài thậm thượt, dáng vẻ gân guốc y như một hảo hán Lương Sơn Bạc, đang cố hết sức để đưa chiếc ghe vào bờ, chỉ trong phút chốc người và ghe đụng mé nước. Có tiếng thì thầm của Tư Trần Hưng Đạo:
-Ghe buôn lậu đã bị cảnh sát Mã Lai đốt rồi mà sao còn lấy lại được, chèo đi ào ào như vầy…
Chiếc ghe rấn lên mí cát nhẹ như một chiếc lá rơi, không một tiếng động nhỏ. Đám đông đứng giãn ra hai bên theo dõi người hùng cô đơn, gương mặt lầm lầm lỳ lỳ. Anh không biểu lộ một xúc động nhỏ nào, tay chưn hoạt động đều đặn như cái máy. Cái ghe nằm dốc nghiêng trên mí nước, quả nhiên nó là cái hộp bằng cây bị cháy xém. Nó đã được dùng như phương tiện để chở hàng hóa buôn lậu với các ghe tàu Mã Lai đi ngang qua đảo. Nếu có ai nói với cái hộp cây nầy có thể chèo chống trên biển cả thì không cách gì tôi tin được. Thiệt tình tôi không thể tin một việc lạ lùng ngoài sức tưởng tượng như vậy. Vậy mà chuyện khó tin đó đã xảy ra trước mắt, chiều nay ở bãi buôn lậu nầy. .. Người khách lạ lè làng nhảy xuống đất, chạy ra phía sau, đẩy chiếc ghe lên trên bờ. Từ phía trong vách đá, một người nữa chạy vụt ra, không nói không rằng, phụ với anh bạn chèo ghe, lật úp ngược cái hộp cây lại, rồi cả hai ra sức vác đòng đòng trên đầu đi một mạch vô rừng. Thoáng chốc, người và ghe mất hút trong rừng cây xanh âm u. Tôi cố nhìn theo… nhìn theo, những gốc cây xám đen lẫn với những khối đá sừng sững chặn bít tầm mắt. Chuyện xảy ra nhanh quá, bãi cát trơ ra, sạch bong không để lại một dấu vết, biến hiện như một giấc chiêm bao. Tôi tưởng tuợng ra nhiều điều. Hai anh bạn tỵ nạn kia khiêng cái ghe cháy đó đi tới tận nơi đâu? Họ sẽ tìm cây ván để vá víu lại? Rồi sẽ tiếp tục chèo ra biển bất chấp sóng gió điên cuồng, bất chấp sự trừng phạt dã man của bọn cảnh sát Mã Lai để mua bán trao đổi hàng hóa với người dân Mã, biết bao nhiêu hiểm nguy chực chờ rình rập xung quanh. Động cơ nào đã khiến họ coi thường mạng sống? Ôi, những người bạn đáng thương. Cuộc sống kham khổ ở đảo đã đẩy họ vào những chuyến phiêu lưu vô định. Nhưng người tỵ nạn Bidong cũng nhờ đó mà cuộc sống tạm đầy đủ hơn. Thực phẩm do Liên Hiệp Quốc cung cấp chỉ đủ cầm hơi qua ngày, chợ trời khu D tiếp tay bổ xung những nhu cầu cần thiết, thực phẩm, quần áo, thuốc men và hàng trăm món linh tinh khác.
Sơn và Dân gì đó đua nhau lội ra xa leo lên ghềnh đá, mon men đến gần ông già câu cá. Tôi và Tư Trần Hưng Đạo cũng rán leo theo, Ghềnh đá cao lớn như cái nhà, đứng chắn một góc vịnh nhỏ tạo thành bãi tắm kín đáo. Tòan khu cây đá một màu xanh xanh, bãi tắm vàng tươi nắng cát. Ông già thỉnh thoảng móc lại mồi mới. Ông lấy một miếng bánh mì khô móc dính vào lưỡi câu rồi thả xuống nước. Bánh mì đụng nước biển nở lớn ra, từ từ tan trong sóng. Từng đàn cá thấy mồi ngon lượn quanh đầy nghẹt, giành nhau rỉa rói. Những con cá lớn bằng bàn tay trên mình vằn vện những sọc đen tuyền bơi lội thong dong. Nước biển trong xanh ngăn ngắt. Đàn cá nhiều hàng trăm, hàng ngàn con, bu nhau rỉa cục bánh mì… vậy mà không con nào mắc vào lưỡi câu.
Tư Trần Hưng Đạo vọt miệng làm quen:
Ai về nhắn với ông câu
Cá ăn thì giựt để lâu hết mồi
Ông già nghe xong, cười ngó anh Tư:
-Cá ở Bidong nầy khôn quá, nó chỉ rỉa mà không cắn câu… tôi cũng giựt lên hoài mà không dính.
Tư Trần Hưng Đạo cười hề hề:
-Cá ở Mã Lai bác phải câu bằng mồi cà ri kìa, nó mới chịu ăn…
Ông già cười, xé một miếng bánh mì nhỏ móc vào lưỡi câu, tiếp tục chờ đợi một con cá dại khờ. Tôi đứng nhìn cái lưỡi câu rồi chợt hiểu mà không dám nói. Loại cá nầy nhỏ bằng bàn tay, miệng nhỏ xíu mà ông lại dùng thứ lưỡi câu dùng để câu cá lóc, cá bông lau làm sao mà cá ăn câu cho được. Có lẽ đi tắm kỳ sau, tôi sẽ đem đủ mồi, lưỡi, dây câu để thi đua với ông già. Tôi chắc cũng không giỏi gì hơn ông, khi mua lưỡi toàn là thứ lớn, có ai nghĩ là đi biển lại câu cá nhỏ bằng cá rô ở đồng, miệng nhỏ bằng trứng kiến. Chúng tôi kéo nhau đi lần trở xuống. Nắng đã dịu hẳn, trời sắp về chiều. Tôi đi cạnh Tư Trần Hưng Đạo nhớ tới ông già, buột miệng nói:
Con cá không ăn câu thiệt là con cá dại
Nghĩ đi nghĩ lại đúng là con cá khôn
Dân gì đó vừa nhảy lỏm bỏm trong nước vừa nhận xét:
-Ông thầy giáo ơi, có chuyện con cá mà ông nói dại nói khôn gì đó, làm sao mà tui hiểu được. Thôi, ông thầy có giỏi nói chuyện tụi mình đi. Mình vượt biên như vầy dại hay khôn gì đó?
Cái thằng nhỏ nầy bữa nay nổi hứng sao mà hỏi lắc léo, tôi đâm ú ớ, miệng muốn trả lời mà không biết nói ra sao cho trôi, may quá Sơn đã trả lời thay:
-Dại hay khôn thì chưa biết nhưng chắc một điều tụi mình là những con cá lọt lưới.
Tư máy cày khoái chí:
-Đúng, đúng, dà Sơn hay à nghen, tụi mình là bầy cá lọt lưới, không dại không khôn, nhờ cái lưới rách…
Trời đất, mấy bạn vàng hôm nay lý luận nghe được qúa, có vậy mà tôi nghĩ không ra. Ai dại ai khôn? Ai khôn ai dại? Chuyện chánh trị rối rắm như mớ bòng bong, mỗi lần nghĩ tới là nhức cái đầu. Tôi che dấu cái dốt của mình nói theo:
-Ừ, ừ, mình là con cá lọt lưới… nhờ trời!
Dân gì đó hỏi tiếp:
-Anh nói nhờ trời là tui không chịu gì đó… Tụi mình đi được là nhờ tụi nó tham vàng. Cũng như mấy người buôn lậu ở Bidong nầy nè, nếu không có tiền hoặc vàng đút lót cho cảnh sát Mã Lai gì đó… thì làm sao nó để yên mà làm ăn gì đó…
Tôi thắc mắc:
-Đừng có đoán mò. Ở Việt Nam mình vì chiến tranh loạn lạc, tình trạng xã hội rối ren mới có nạn tham nhũng, hối lộ, chớ ở xứ Mã Lai nầy yên ổn, luật pháp đâu ra đó, làm gì có cảnh sát ăn tiền làm ngơ cho đám buôn lậu…
Tư Trần Hưng Đạo nhìn tôi:
-Đúng là lý luận của thầy giáo! Cảnh sát Mã Lai không tham nhũng, không ăn hối lộ tại sao có cái chợ trời chình ình ở khu D? Tại sao nó đón bắt mấy ghe buôn lậu đem về đốt mà lại để hàng hóa bày bán đầy dẫy ở ngòai chợ? Hàng hóa đó chắc là ở trên trời rớt xuống hay là do ghe cảnh sát hay ghe buôn lậu chở vô?
Tôi lại ú ớ một lần nữa và chợt hiểu, thì ra dầu ở phương trời nào, con người cũng có những tánh tốt và những tánh xấu giống nhau. Hễ nơi nào có pháp luật thì nơi đó có người phạm luật, chỉ khác nhau là mức độ nhiều hay ít mà thôi..
Trời đã dứt nắng. Bên trong rừng cây đã nhá nhem. Tôi đã lên tới mí cát khô, nhờ gió nhiều nên không cần lau, cả người đã ráo hoảnh. Bây giờ trở về là vừa, đoạn đường khá xa, để tối hơn nữa, sẽ không thấy đường đi. Tư Trần Hưng Đạo lo đi kiếm mấy đứa nhỏ còn chạy lăng quăng đâu đó. Tôi đứng ngó bâng quơ trở về ghềnh đá nơi ông già câu cá, bất chợt thấy một ghe buôn lậu lướt theo sóng, đâm vút vào bãi cát. Giờ nầy trên bãi đã thưa người. Chiếc ghe còn nguyên vẹn. Phía trước, một người chèo mũi, phía sau một người chèo lái, ở giữa một đống thùng cạc tông hàng hóa để ngổn ngang. Chiếc nầy cũng giống y chiếc hồi nãy, kiểu cái thùng cây nhỏ xíu được ghép sơ sài. Ở những mối ráp được trét dầu chai để khỏi rịn nước, dấu trét lem nhem vằn vện, chỗ dầy chỗ mỏng.
Tôi kéo Sơn và Dân gì đó lại gần hơn để coi cho rõ. Hai anh buôn lậu đã nhảy xuống nước kéo ghe vào sát bờ, một đầu để gác trên bờ cát. Tôi đếm được tất cả mười thùng cạc tông để giữa khoang. Không biết từ đâu, xuất hiện một đám bạn hàng vây quanh. Mỗi người trên tay cầm sẵn một cọc tiền dầy cộm. Họ thì thầm trả giá. Cuộc thỏa thuận nhanh chóng. Hàng được giao cho những thanh niên đứng phía sau. Họ lập tức vác các thùng cạc tông lên vai, đi nhanh vào rừng, lẹ như những bóng ma. Theo sau là hai thanh niên khiêng ghe cao trên đầu, đi cũng nhanh không kém. Chỉ trong vòng năm, mười phút cuộc mua bán, chuyển vận hàng hóa đã xong xuôi, không còn một chứng tích nào nữa hết. Bãi cát vắng tanh, bóng chiều từ từ buông xuống, quạnh hiu. Tiếng sóng vỗ nghe chừng gấp rút. Mấy đứa nhỏ con Tư Trần Hưng Đạo chạy phía trước, len lỏi trên đọan đường mòn lẹ như những con sóc, chúng tôi lần lượt theo sau. Trong đầu tôi còn váng vất hình ảnh cuộc chuyển hàng vừa rồi. Họ hoạt động phối hợp nhau khéo quá, chính xác nhịp nhàng. Những người tỵ nạn tháo vác, can đảm. Tôi nói với anh Tư:
-Tôi phục mấy anh chàng buôn lậu nầy quá, cái ghe đóng sơ sài ngó thấy ghê, vậy mà dám liều mạng chèo ra biển…
-Cũng chưa hay lắm đâu. Họ còn có ghe để chèo, không nguy hiểm lắm. Có bận tôi thấy một đám cũng buôn lậu nhưng liều mạng hơn nhiều. Họ đông gần mười người, ôm phao lội ra ghe Mã Lai đậu ở ngoài xa bờ cách cả trăm thước để mua hàng. Mua xong họ ôm thùng hàng được gói kín trong bao ny lông, lội trở vô. Cả đám lội y như đàn nhái bị sóng đánh dập vùi, vô được tới bờ người nào người nấy thở dốc, mặt mày xanh xám, thở không ra hơi. Đồng tiền kiếm được phải đánh đổi bằng mồ hôi, nước mắt và đôi khi chính cả mạng sống… Ở Bidong nầy có tất cả năm bãi tắm được. Có hai bãi dùng để chuyển hàng hóa mua được của ngư phủ Mã Lai. Bãi nầy dược đặt tên là Bãi Buôn Lậu. Còn một bãi nữa ở sau khu G, chỗ lều của bồ ở, băng qua một ngọn núi là tới, cũng là bãi buôn lậu, ở đó nhờ có vách đá nhô ra che khuất tầm mắt của cảnh sát nên kín đáo và tiện lợi, giới anh chị thích vô đây hơn. Khi đã cho hàng lên bờ rồi, chỉ cần vác băng ngang qua núi là chui tọt vô chợ trời liền, kể như an toàn trên xa lộ. Chỗ đó họ thường gọi là Bãi Sang Đồ. Nếu dùng chữ của nhà nước ta, thì đó là hai cửa khẩu xuất nhập hàng trốn thuế ..của đảo Bidong!
Tôi nghe anh Tư dùng chữ của Hà Nội mà tức cười:
-Theo anh thì chữ hải cảng của Sài Gòn và chữ cửa khẩu của Hà Nội, chữ nào hay hơn?
Tư Trần Hưng Đại trả lời:
-Chuyện đúng sai, hay dở thì không biết, nhưng cái gì không ưa thì nói là không ưa!
-Tôi cũng y như anh vậy. Mỗi lần nghe thấy tiếng Việt Nam ‘là lạ’ thì hơi khó chịu, không biết tại sao!
Đường trở về có vẻ gần hơn lúc đi. Chỉ trong chốc lát tôi đã bước ngang qua túp lều có đám rau xơ xác. Những cây rau con nhạt nhòa không còn thấy rõ màu xanh. Có vài lều vàng vọt ánh đèn. Những bước chưn hối hả. Bidong sắp đắm mình trong bóng đêm quạnh hiu. Chung quanh người đi đã thưa thớt. Trong không gian tĩnh mịch, tiếng côn trùng rỉ rả khắp nơi nơi. Lẫn trong tiếng động của núi rừng, tiếng loa phóng thanh dưới bãi được gió đưa đi xa, nghe văng vẳng khi nhỏ khi to.
Sơn đi cạnh tôi nói:
-Bây giờ chắc mấy anh buôn lậu đã dấu ghe xong xuôi rồi, hết lo tụi cảnh sát.
Tôi cũng thấy y như vậy:
-Ừ, ừ, cầu trời cho họ được bình yên…
Trong bóng đêm của Bidong có biết bao người sống âm thầm chịu đựng, cũng có biết bao người bằng cách nầy hay cách khác, hành động len lách để sống còn. Tất cả chỉ vì một ước muốn duy nhứt là được hít thở không khí tự do. Từ Việt Nam đến Mã Lai, từ bãi Buôn Lậu đến nơi ẩn dấu hàng hóa trên hốc núi, dọc theo những nẻo đường âm u hẻo lánh bao nhiêu nguy hiểm chực chờ. Ôi! cái giá của tự do phải trả quá đắt, đôi khi chính cả mạng sống quí báu. Một ngày còn vướng chưn trên đảo là một ngày còn khó khăn. Trên bãi Buôn Lậu hay bãi Sang Đồ của Pulau Bidong chập chùng sóng nước, người tỵ nạn khốn khổ Việt Nam còn phải chèo ghe bao nhiêu bận, khiêng hàng bao nhiêu đêm? Họ còn phải chấp nhận đương đầu với bắt bớ, giam cầm, chết chóc bao nhiêu lần nữa mới tới được bến bờ Tự Do?
Ở dưới triền núi những nóc lều xanh đen nhàn nhạt, ánh trăng thượng tuần lạnh ngắt. Những bóng người di chuyển, thoắt biến thoắt hiện như cảnh tượng trong chuyện liêu trai hoang đường…
Võ Kỳ Điền
HẢI ĐẢO BUỒN LÂU BI ĐÁT
Chúng tôi gồm bốn người lớn và mấy đứa con nít đi một dọc dài, len theo con đường mòn dẫn lên triền đồi cao. Đường dốc cheo leo, hẹp té, hai người đi sóng đôi nhau là thấy chật. Đất ở đây thuộc loại đất sét dẻo quánh, vàng ẻo. Vì nhiều người qua lại, nên mặt đường được nện cứng phẳng lì, thỉnh thoảng có những lạch nước nhỏ chảy ngang, những người lân cận sắp những khúc cây lượm được đâu đó, làm thành những chiếc cầu tạm bợ. Hai bên đường là những chiếc lều đủ mọi kiểu vở, kích thước. Rải rác cũng còn những cây to xanh lá, đứng len lỏi giữa những đám lều chen chúc nhau như những cây nấm lớn, những cây nầy còn lại được là nhờ nó to quá người ta thấy không thể dùng được vào việc gì, hơn nữa muốn đốn lấy củi cũng không phải dễ dàng. Tôi đi thong thả cạnh anh Tư:
-Đảo Bidong ai nói nhỏ đâu, sao đi hoài không tới vầy nè?
Anh Tư Trần Hưng Đạo, tay ôm cái khăn lông lớn, miệng trả lời:
-Cũng tại bồ chọn cái bãi nầy. Phải chi mình tắm ở bãi sau, khu C thì gần hơn khỏi phải đi xa…
Sơn nói tiếp:
-Bãi sau dơ thấy mồ. Người tắm đông quá nên bừa bãi, rác rến tùm lum, tắm đâu có đã. Nó chỉ sạch hơn bãi trước khu A một chút thôi. Mình chịu khó đi xa nhưng tắm đã hơn…
Dân gì đó góp ý:
-Bãi sau dơ thì có dơ gì đó, chớ tắm cũng được lắm chớ. Mình vừa lội vừa nghe nhạc ở trong mấy cái quán cà phê, có cô Thanh Thúy, Khánh Ly, Hoàng Oanh… gì đó hát, nghe cũng đỡ ghiền!
Tư Trần Hưng Đạo quay lại:
-Có nhạc nghe thì cũng được đi, nhưng ngặt hai cái quán Tình Nhớ với Cà Phê Mây chung một vách ny lông, mỗi quán lớn bằng cái lỗ mũi mà lại mua máy thu thanh quay băng loại lớn, từ sớm mơi tới chiều tối, cả hai đều mở âm thanh hết mức, mỗi lần ngồi nghe y như Hùng Cường gây lộn với Chế Linh, Thanh Thúy khóc đua với Thanh Tuyền, nghe muốn điếc con ráy luôn. Tao đoán thế nào có ngày hai thằng cha chủ quán cũng xăng tay áo đánh lộn.
Tôi xen vô:
-Kệ nó, vậy thì nghe một lượt, lỗ tai bên nầy nghe giọng cao, lỗ tai bên kia nghe giọng thấp, để bù lại những ngày sống âm thầm với tụi răng đen mã tấu, tối ngày nghe mấy cái giọng the thé của ca sĩ Hà Nội, ớn tới xương sống. Nhưng ở quán, khoái nhứt là cái món nước đá lạnh. Không biết họ mua ở đâu được nước đá hay quá, có điều khá mắc, một lon Coca hay Seven Up tới hai đồng, cà phê thứ tan liền một đồng rưỡi. Ngồi nhấp nháp ly cà phê đá, ngó ra ngoài khơi thấy mấy cụm mây trắng lãng đãng tưởng Việt Nam mình ở phía dưới đó, đâm nhớ nhà hết sức…
Đường càng lúc càng lên cao chỗ lồi chỗ lõm. Lều đã thưa bớt, nhường chỗ cho cây xanh. Cây lớn cây nhỏ mọc chi chít, chen nhau. Bên dốc đứng, một cây cỡ hai người ôm bị cơn giông lớn thổi trốc gốc, ngã ập dựa lưng vào vách đá, gốc rễ trơ ra tua tủa, bên dưới tạo thành một cái hố sâu hoắm, ngó phát rùng mình. Có vài miếng rẫy nhỏ xíu của những chủ lều lân cận trồng rau dền, rau muống. Chắc mới trồng nên những lá non nhỏ chưa che được hết đất đen. Cọng rau nhỏ ốm yếu tong teo như thân phận người tỵ nạn bọt bèo. Tôi nhìn đám rau nghĩ thương nó, rồi thương chủ nó, rồi đâm ra thương mình! Cái thân ăn đậu ở nhờ, làm sao mà khá được!
Đường đi đã xuống thấp, chúng tôi bước e dè trên những bực đá thiên nhiên. Cục nhô ra cục thụt vào. Qua khỏi một rặng cây, biển đã hiện ra trước mắt. Một vùng biển xanh rì, bãi cát sóng vỗ trắng xóa. Mấy đứa nhỏ con anh Tư thấy nước, mừng rỡ chạy đuổi bắt nhau trên bãi cát trắng, la đùa chí chóe. Cảnh trí thật hùng vĩ. Giữa rừng cây đá núi, một bãi cát trắng ngời ngời sóng nước. Hằng trăm người đang bơi lội nô đùa.
Tư Trần Hưng Đạo khều tôi, nói nhỏ:
-Ê bồ, ngó coi mấy nàng kiều nữ đảo Bidong nè, đã không?
Trên mé nước có vài thiếu nữ trẻ đẹp mặc áo tắm bó sát người, phô bày hết vẻ đẹp của tấm thân ngọc ngà, đi qua đi lại trước hàng trăm cặp mắt ngắm nghía, trầm trồ. Đâu có ai đoán được ở đảo Bidong lại có cảnh như ở Vũng Tàu. Tôi hỏi anh Tư:
-Đố anh, mấy bộ áo tắm nầy từ Mỹ gởi qua cho, hay là mấy cô đó vượt biên đem theo?
-Vượt biên thì không phải rồi. Đi vượt biên run thót ruột, có ai mà nghĩ tới việc tắm biển, tắm sông gì. Một hai bộ quần áo để đổi thay là đủ, đâu phải du lịch. Chắc là bên Tây bên Mỹ thân nhân gởi qua cho.
Tôi và Sơn đồng ý:
-Ừ, ừ, có lý, tôi cũng nghĩ như vậy. Mấy bộ đồ nầy kiểu mới quá, chưa chắc gì ở Sài Gòn có được…
Dân gì đó nhăn răng vàng cười khì khì:
-Đoán trật lất hết trơn. Cái nầy là của họ vượt biên đem theo gì đó. Chớ ở bên Mỹ có gởi thì gởi cho tiền, chớ ai hơi đâu mà gởi ba cái thứ quỉ nầy, tui thấy mấy đứa con gái của Hủ Tiếu cũng có gì đó…
Tư Trần Hưng Đạo trố mắt:
-Cái thằng nầy, chuyện đàn bà con gái người ta, mầy rình mò hồi nào mà biết hết ráo vậy?
Dân gì đó giải thích:
-Tui đâu có rình mò gi đó. Hủ Tiếu biểu tui khiêng hành lý xuống ghe cho Mã Lai xét, thằng ti đu nó lục tứ tung, tui thấy. Mấy người chủ ghe họ đem theo đồ đạc nhiều lắm như dọn nhà, chớ đâu phải như tụi mình gì đó.
Nói xong nó nghĩ là chưa ai tin, bèn tiếp:
-Mấy anh có vợ có con nên không biết, mấy thanh niên trẻ trẻ gì đó, họ vừa vượt biên vừa kéo xe bò…
Sơn nghe tới ba chữ ‘kéo xe bò’ không hiểu gi hết, la lên:
-Tao cũng là thanh niên nè,… mà đâu có kéo xe bò!
Cả đám xúm nhau cười vang. Tiếng sóng đập ầm ầm vô vách đá cũng không át được tiếng cười đùa. Ở bãi nầy, sóng lớn quá, từ ngoài khơi từng lượn cao như cái nhà, ồ ạt xô đẩy nhau chạy vào bờ, cuộn vào trong lòng nước bao nhiêu là sỏi đá, tan dần trên mí cát, hết đợt nầy đến đợt kia, không dứt.
Dân gì đó nắm lấy tay tôi:
-Hồi đó, ở trong trường tụi học sinh hẹn hò với bên lớp con gái, rủ nhau đi chơi thì kêu là ‘lá nĩu xớ’ tiếng Việt dịch là kéo xe bò gì đó…
Tôi thấy ngồ ngộ, bèn hỏi:
-Sao đọc trong sách, không thấy ai nói đến mấy chữ nầy. Tại sao không nói là kéo xe ngựa mà nói là kéo xe bò?
Dân cười:
-Tui đâu có biết, học trường Tàu có nhiều tiếng khác truờng Việt, tụi nó đặt ra để chọc ghẹo gì đó… con trai đi chơi với con gái thì kêu là kéo xe bò, kéo xe bò…
Tư Trần Hưng Đạo xen vô, thêm mắm thêm muối:
-Đúng rồi, đúng rồi. Hẹn hò thì phải cà rịch cà tang ngắm mây ngắm nước, càng chậm càng tốt, chớ đâu có chạy lồng lên như ngựa được. Vậy mấy bồ đoán coi, mấy con bò thì ở đây rồi, còn mấy anh kéo xe bò ở đâu?
Tôi nghe hỏi đưa mắt nhìn quanh. Rải rác trên bờ có năm ba thanh niên ngồi nói chuyện. Trên một gộp đá cao, một người lớn tuổi ngồi câu cá, im lìm như pho tượng. Chắc mấy anh kéo xe bò còn lặn hụp dưới nước, nô đùa với sóng.
Bỗng Sơn nắm lấy tay tôi, chỉ chỏ:
-Coi kìa,.. cái ghe… ngộ quá!
Tôi nhìn theo hướng Sơn chỉ, thấy ở tận đàng xa một cái ghe nhỏ xíu lớn bằng cái hộp đang trồi hụp trên sóng lớn. Trời, đó là cái ghe sao? nó nhỏ quá, thấy mà phát sợ. Biển cả thì mênh mông, sóng nước chập chùng. Cái ghe như chiếc lá khô, nhô lên hụp xuống càng lúc càng đến gần bờ nhưng cũng không thấy lớn hơn bao nhiêu. Có một người cầm chèo đang bơi tận lực. Những cử động hai tay vun vút đưa mái chèo thoăn thoắt nhịp nhàng, chiếc ghe tiến tới rất nhanh. Ồ lạ quá, tôi đã thấy rõ. Sao kỳ lạ vậy? Sao cái ghe lại cháy đen, hư hao gần phân nửa…
Dân gì đó la lên:
-Cái ghe bị cháy gì đó. Cái lỗ lớn quá…
Đám đông đang bơi lội nô đùa, thấy chiếc ghe lạ lùng bèn trố mắt ùa lên bãi cát để coi cho rõ. Cái ghe được đóng sơ sài bằng cây, hình chữ nhựt, dài chừng hai thước, ngang một thước, cao khoảng năm sáu tấc, mới nhìn qua thiệt tình, giống y như... cái hòm! Không biết tại sao dưới lườn lại bị cháy đen, khuyết một lỗ trống hốc, mất đi phân nửa đáy. Anh lái ghe vì sợ nước vô, ghe chìm nên cố ngồi tuốt ra phía sau, dồn hết sức nặng của thân người để đè xuống, chiếc ghe chổng ngược lên, nhờ đó nó còn nổi được trên sóng và lướt tới trước lẹ hơn. Một hình ảnh tuyệt vời của con người nhỏ nhoi nhưng đầy can đãm, chống chỏi với cái bao la hung dữ của sóng gió trùng dương. Tôi thấy cái hộp bằng cây đó, được chèo rất nhanh, lướt phăng phăng tới. Anh bạn chèo ghe ở trần, mặc chiếc quần xà lỏn đen, râu tóc dài thậm thượt, dáng vẻ gân guốc y như một hảo hán Lương Sơn Bạc, đang cố hết sức để đưa chiếc ghe vào bờ, chỉ trong phút chốc người và ghe đụng mé nước. Có tiếng thì thầm của Tư Trần Hưng Đạo:
-Ghe buôn lậu đã bị cảnh sát Mã Lai đốt rồi mà sao còn lấy lại được, chèo đi ào ào như vầy…
Chiếc ghe rấn lên mí cát nhẹ như một chiếc lá rơi, không một tiếng động nhỏ. Đám đông đứng giãn ra hai bên theo dõi người hùng cô đơn, gương mặt lầm lầm lỳ lỳ. Anh không biểu lộ một xúc động nhỏ nào, tay chưn hoạt động đều đặn như cái máy. Cái ghe nằm dốc nghiêng trên mí nước, quả nhiên nó là cái hộp bằng cây bị cháy xém. Nó đã được dùng như phương tiện để chở hàng hóa buôn lậu với các ghe tàu Mã Lai đi ngang qua đảo. Nếu có ai nói với cái hộp cây nầy có thể chèo chống trên biển cả thì không cách gì tôi tin được. Thiệt tình tôi không thể tin một việc lạ lùng ngoài sức tưởng tượng như vậy. Vậy mà chuyện khó tin đó đã xảy ra trước mắt, chiều nay ở bãi buôn lậu nầy. .. Người khách lạ lè làng nhảy xuống đất, chạy ra phía sau, đẩy chiếc ghe lên trên bờ. Từ phía trong vách đá, một người nữa chạy vụt ra, không nói không rằng, phụ với anh bạn chèo ghe, lật úp ngược cái hộp cây lại, rồi cả hai ra sức vác đòng đòng trên đầu đi một mạch vô rừng. Thoáng chốc, người và ghe mất hút trong rừng cây xanh âm u. Tôi cố nhìn theo… nhìn theo, những gốc cây xám đen lẫn với những khối đá sừng sững chặn bít tầm mắt. Chuyện xảy ra nhanh quá, bãi cát trơ ra, sạch bong không để lại một dấu vết, biến hiện như một giấc chiêm bao. Tôi tưởng tuợng ra nhiều điều. Hai anh bạn tỵ nạn kia khiêng cái ghe cháy đó đi tới tận nơi đâu? Họ sẽ tìm cây ván để vá víu lại? Rồi sẽ tiếp tục chèo ra biển bất chấp sóng gió điên cuồng, bất chấp sự trừng phạt dã man của bọn cảnh sát Mã Lai để mua bán trao đổi hàng hóa với người dân Mã, biết bao nhiêu hiểm nguy chực chờ rình rập xung quanh. Động cơ nào đã khiến họ coi thường mạng sống? Ôi, những người bạn đáng thương. Cuộc sống kham khổ ở đảo đã đẩy họ vào những chuyến phiêu lưu vô định. Nhưng người tỵ nạn Bidong cũng nhờ đó mà cuộc sống tạm đầy đủ hơn. Thực phẩm do Liên Hiệp Quốc cung cấp chỉ đủ cầm hơi qua ngày, chợ trời khu D tiếp tay bổ xung những nhu cầu cần thiết, thực phẩm, quần áo, thuốc men và hàng trăm món linh tinh khác.
Sơn và Dân gì đó đua nhau lội ra xa leo lên ghềnh đá, mon men đến gần ông già câu cá. Tôi và Tư Trần Hưng Đạo cũng rán leo theo, Ghềnh đá cao lớn như cái nhà, đứng chắn một góc vịnh nhỏ tạo thành bãi tắm kín đáo. Tòan khu cây đá một màu xanh xanh, bãi tắm vàng tươi nắng cát. Ông già thỉnh thoảng móc lại mồi mới. Ông lấy một miếng bánh mì khô móc dính vào lưỡi câu rồi thả xuống nước. Bánh mì đụng nước biển nở lớn ra, từ từ tan trong sóng. Từng đàn cá thấy mồi ngon lượn quanh đầy nghẹt, giành nhau rỉa rói. Những con cá lớn bằng bàn tay trên mình vằn vện những sọc đen tuyền bơi lội thong dong. Nước biển trong xanh ngăn ngắt. Đàn cá nhiều hàng trăm, hàng ngàn con, bu nhau rỉa cục bánh mì… vậy mà không con nào mắc vào lưỡi câu.
Tư Trần Hưng Đạo vọt miệng làm quen:
Ai về nhắn với ông câu
Cá ăn thì giựt để lâu hết mồi
Ông già nghe xong, cười ngó anh Tư:
-Cá ở Bidong nầy khôn quá, nó chỉ rỉa mà không cắn câu… tôi cũng giựt lên hoài mà không dính.
Tư Trần Hưng Đạo cười hề hề:
-Cá ở Mã Lai bác phải câu bằng mồi cà ri kìa, nó mới chịu ăn…
Ông già cười, xé một miếng bánh mì nhỏ móc vào lưỡi câu, tiếp tục chờ đợi một con cá dại khờ. Tôi đứng nhìn cái lưỡi câu rồi chợt hiểu mà không dám nói. Loại cá nầy nhỏ bằng bàn tay, miệng nhỏ xíu mà ông lại dùng thứ lưỡi câu dùng để câu cá lóc, cá bông lau làm sao mà cá ăn câu cho được. Có lẽ đi tắm kỳ sau, tôi sẽ đem đủ mồi, lưỡi, dây câu để thi đua với ông già. Tôi chắc cũng không giỏi gì hơn ông, khi mua lưỡi toàn là thứ lớn, có ai nghĩ là đi biển lại câu cá nhỏ bằng cá rô ở đồng, miệng nhỏ bằng trứng kiến. Chúng tôi kéo nhau đi lần trở xuống. Nắng đã dịu hẳn, trời sắp về chiều. Tôi đi cạnh Tư Trần Hưng Đạo nhớ tới ông già, buột miệng nói:
Con cá không ăn câu thiệt là con cá dại
Nghĩ đi nghĩ lại đúng là con cá khôn
Dân gì đó vừa nhảy lỏm bỏm trong nước vừa nhận xét:
-Ông thầy giáo ơi, có chuyện con cá mà ông nói dại nói khôn gì đó, làm sao mà tui hiểu được. Thôi, ông thầy có giỏi nói chuyện tụi mình đi. Mình vượt biên như vầy dại hay khôn gì đó?
Cái thằng nhỏ nầy bữa nay nổi hứng sao mà hỏi lắc léo, tôi đâm ú ớ, miệng muốn trả lời mà không biết nói ra sao cho trôi, may quá Sơn đã trả lời thay:
-Dại hay khôn thì chưa biết nhưng chắc một điều tụi mình là những con cá lọt lưới.
Tư máy cày khoái chí:
-Đúng, đúng, dà Sơn hay à nghen, tụi mình là bầy cá lọt lưới, không dại không khôn, nhờ cái lưới rách…
Trời đất, mấy bạn vàng hôm nay lý luận nghe được qúa, có vậy mà tôi nghĩ không ra. Ai dại ai khôn? Ai khôn ai dại? Chuyện chánh trị rối rắm như mớ bòng bong, mỗi lần nghĩ tới là nhức cái đầu. Tôi che dấu cái dốt của mình nói theo:
-Ừ, ừ, mình là con cá lọt lưới… nhờ trời!
Dân gì đó hỏi tiếp:
-Anh nói nhờ trời là tui không chịu gì đó… Tụi mình đi được là nhờ tụi nó tham vàng. Cũng như mấy người buôn lậu ở Bidong nầy nè, nếu không có tiền hoặc vàng đút lót cho cảnh sát Mã Lai gì đó… thì làm sao nó để yên mà làm ăn gì đó…
Tôi thắc mắc:
-Đừng có đoán mò. Ở Việt Nam mình vì chiến tranh loạn lạc, tình trạng xã hội rối ren mới có nạn tham nhũng, hối lộ, chớ ở xứ Mã Lai nầy yên ổn, luật pháp đâu ra đó, làm gì có cảnh sát ăn tiền làm ngơ cho đám buôn lậu…
Tư Trần Hưng Đạo nhìn tôi:
-Đúng là lý luận của thầy giáo! Cảnh sát Mã Lai không tham nhũng, không ăn hối lộ tại sao có cái chợ trời chình ình ở khu D? Tại sao nó đón bắt mấy ghe buôn lậu đem về đốt mà lại để hàng hóa bày bán đầy dẫy ở ngòai chợ? Hàng hóa đó chắc là ở trên trời rớt xuống hay là do ghe cảnh sát hay ghe buôn lậu chở vô?
Tôi lại ú ớ một lần nữa và chợt hiểu, thì ra dầu ở phương trời nào, con người cũng có những tánh tốt và những tánh xấu giống nhau. Hễ nơi nào có pháp luật thì nơi đó có người phạm luật, chỉ khác nhau là mức độ nhiều hay ít mà thôi..
Trời đã dứt nắng. Bên trong rừng cây đã nhá nhem. Tôi đã lên tới mí cát khô, nhờ gió nhiều nên không cần lau, cả người đã ráo hoảnh. Bây giờ trở về là vừa, đoạn đường khá xa, để tối hơn nữa, sẽ không thấy đường đi. Tư Trần Hưng Đạo lo đi kiếm mấy đứa nhỏ còn chạy lăng quăng đâu đó. Tôi đứng ngó bâng quơ trở về ghềnh đá nơi ông già câu cá, bất chợt thấy một ghe buôn lậu lướt theo sóng, đâm vút vào bãi cát. Giờ nầy trên bãi đã thưa người. Chiếc ghe còn nguyên vẹn. Phía trước, một người chèo mũi, phía sau một người chèo lái, ở giữa một đống thùng cạc tông hàng hóa để ngổn ngang. Chiếc nầy cũng giống y chiếc hồi nãy, kiểu cái thùng cây nhỏ xíu được ghép sơ sài. Ở những mối ráp được trét dầu chai để khỏi rịn nước, dấu trét lem nhem vằn vện, chỗ dầy chỗ mỏng.
Tôi kéo Sơn và Dân gì đó lại gần hơn để coi cho rõ. Hai anh buôn lậu đã nhảy xuống nước kéo ghe vào sát bờ, một đầu để gác trên bờ cát. Tôi đếm được tất cả mười thùng cạc tông để giữa khoang. Không biết từ đâu, xuất hiện một đám bạn hàng vây quanh. Mỗi người trên tay cầm sẵn một cọc tiền dầy cộm. Họ thì thầm trả giá. Cuộc thỏa thuận nhanh chóng. Hàng được giao cho những thanh niên đứng phía sau. Họ lập tức vác các thùng cạc tông lên vai, đi nhanh vào rừng, lẹ như những bóng ma. Theo sau là hai thanh niên khiêng ghe cao trên đầu, đi cũng nhanh không kém. Chỉ trong vòng năm, mười phút cuộc mua bán, chuyển vận hàng hóa đã xong xuôi, không còn một chứng tích nào nữa hết. Bãi cát vắng tanh, bóng chiều từ từ buông xuống, quạnh hiu. Tiếng sóng vỗ nghe chừng gấp rút. Mấy đứa nhỏ con Tư Trần Hưng Đạo chạy phía trước, len lỏi trên đọan đường mòn lẹ như những con sóc, chúng tôi lần lượt theo sau. Trong đầu tôi còn váng vất hình ảnh cuộc chuyển hàng vừa rồi. Họ hoạt động phối hợp nhau khéo quá, chính xác nhịp nhàng. Những người tỵ nạn tháo vác, can đảm. Tôi nói với anh Tư:
-Tôi phục mấy anh chàng buôn lậu nầy quá, cái ghe đóng sơ sài ngó thấy ghê, vậy mà dám liều mạng chèo ra biển…
-Cũng chưa hay lắm đâu. Họ còn có ghe để chèo, không nguy hiểm lắm. Có bận tôi thấy một đám cũng buôn lậu nhưng liều mạng hơn nhiều. Họ đông gần mười người, ôm phao lội ra ghe Mã Lai đậu ở ngoài xa bờ cách cả trăm thước để mua hàng. Mua xong họ ôm thùng hàng được gói kín trong bao ny lông, lội trở vô. Cả đám lội y như đàn nhái bị sóng đánh dập vùi, vô được tới bờ người nào người nấy thở dốc, mặt mày xanh xám, thở không ra hơi. Đồng tiền kiếm được phải đánh đổi bằng mồ hôi, nước mắt và đôi khi chính cả mạng sống… Ở Bidong nầy có tất cả năm bãi tắm được. Có hai bãi dùng để chuyển hàng hóa mua được của ngư phủ Mã Lai. Bãi nầy dược đặt tên là Bãi Buôn Lậu. Còn một bãi nữa ở sau khu G, chỗ lều của bồ ở, băng qua một ngọn núi là tới, cũng là bãi buôn lậu, ở đó nhờ có vách đá nhô ra che khuất tầm mắt của cảnh sát nên kín đáo và tiện lợi, giới anh chị thích vô đây hơn. Khi đã cho hàng lên bờ rồi, chỉ cần vác băng ngang qua núi là chui tọt vô chợ trời liền, kể như an toàn trên xa lộ. Chỗ đó họ thường gọi là Bãi Sang Đồ. Nếu dùng chữ của nhà nước ta, thì đó là hai cửa khẩu xuất nhập hàng trốn thuế ..của đảo Bidong!
Tôi nghe anh Tư dùng chữ của Hà Nội mà tức cười:
-Theo anh thì chữ hải cảng của Sài Gòn và chữ cửa khẩu của Hà Nội, chữ nào hay hơn?
Tư Trần Hưng Đại trả lời:
-Chuyện đúng sai, hay dở thì không biết, nhưng cái gì không ưa thì nói là không ưa!
-Tôi cũng y như anh vậy. Mỗi lần nghe thấy tiếng Việt Nam ‘là lạ’ thì hơi khó chịu, không biết tại sao!
Đường trở về có vẻ gần hơn lúc đi. Chỉ trong chốc lát tôi đã bước ngang qua túp lều có đám rau xơ xác. Những cây rau con nhạt nhòa không còn thấy rõ màu xanh. Có vài lều vàng vọt ánh đèn. Những bước chưn hối hả. Bidong sắp đắm mình trong bóng đêm quạnh hiu. Chung quanh người đi đã thưa thớt. Trong không gian tĩnh mịch, tiếng côn trùng rỉ rả khắp nơi nơi. Lẫn trong tiếng động của núi rừng, tiếng loa phóng thanh dưới bãi được gió đưa đi xa, nghe văng vẳng khi nhỏ khi to.
Sơn đi cạnh tôi nói:
-Bây giờ chắc mấy anh buôn lậu đã dấu ghe xong xuôi rồi, hết lo tụi cảnh sát.
Tôi cũng thấy y như vậy:
-Ừ, ừ, cầu trời cho họ được bình yên…
Trong bóng đêm của Bidong có biết bao người sống âm thầm chịu đựng, cũng có biết bao người bằng cách nầy hay cách khác, hành động len lách để sống còn. Tất cả chỉ vì một ước muốn duy nhứt là được hít thở không khí tự do. Từ Việt Nam đến Mã Lai, từ bãi Buôn Lậu đến nơi ẩn dấu hàng hóa trên hốc núi, dọc theo những nẻo đường âm u hẻo lánh bao nhiêu nguy hiểm chực chờ. Ôi! cái giá của tự do phải trả quá đắt, đôi khi chính cả mạng sống quí báu. Một ngày còn vướng chưn trên đảo là một ngày còn khó khăn. Trên bãi Buôn Lậu hay bãi Sang Đồ của Pulau Bidong chập chùng sóng nước, người tỵ nạn khốn khổ Việt Nam còn phải chèo ghe bao nhiêu bận, khiêng hàng bao nhiêu đêm? Họ còn phải chấp nhận đương đầu với bắt bớ, giam cầm, chết chóc bao nhiêu lần nữa mới tới được bến bờ Tự Do?
Ở dưới triền núi những nóc lều xanh đen nhàn nhạt, ánh trăng thượng tuần lạnh ngắt. Những bóng người di chuyển, thoắt biến thoắt hiện như cảnh tượng trong chuyện liêu trai hoang đường…
Võ Kỳ Điền
Pulau Bidong Miền Đất Lạ - Chương 17
Chương 17:
HẢI ĐẢO BUỒN LÂU BI ĐÁT
Những thân dừa trơ ra dưới nắng cháy. Những mái lều xanh hình như không đủ sức che mát cho những con người khốn khổ chui rúc phía dưới. Nắng cháy trên đầu, nắng phỏng dưới chưn. Tôi phải chen lấn trong đám đông hỗn độn, ồn ào đủ thứ âm thanh, đủ loại màu sắc để đi cho lọt, về được tới lều thì trời đã trưa. Bidong bị phơi khô, đang bốc hơi ngùn ngụt và sắp tan thành nước… Ở đảo chiều xuống rất mau, khoảng bảy giờ thì trời đã tối hù. Một phần thì mặt trời xuống thấp, một phần lều bị che kín mít bốn bên, ánh sáng le lói buổi chiều tà đâu còn ngõ nào mà chun vô trong cho được. Cơm nước cũng vừa xong, nếu không có việc gì phải ra ngoài, thì chỉ có nước đi ngủ. Không có đèn sáp mà cũng chẳng có đèn dầu, tất cả đều bị bỏ lại ở Kapas. Tôi ngồi trong một góc sàn, thoải mái. Hơi mát buổi tối làm cho mọi người tươi tỉnh trở lại. Vợ chồng, anh em, quây quần kể chuyện cho nhau nghe những việc xảy ra trong ngày. Cái sàn tuy rất chắc nhưng nhỏ và chật quá, chỉ xê qua xích lại một hai tấc thôi.
Nói ba điều bốn chuyện thì có tiếng chào rào, chộn rộn ngoài cửa. Tiếng một thanh niên người Tàu lai líu lo. À, thì ra thằng con chị Mỹ Á dắt cô Lý Tố Hà đến thăm. Trong bóng tối mờ mờ, cô Hà leo lên gác, mắt nhìn quanh, gặp Duyên và tôi, mừng rỡ hỏi dồn:
-Ủa, có hai anh chị đi chuyến nầy nữa sao? Vậy mà tôi cứ tưởng chỉ có mấy em... Nghe nói đi cả hai ba tháng trước rồi mà, sao bây giờ mới tới đây?
-Ừ, thì cũng phải rán, chớ thiên hạ xúm nhau đi hết rồi mình còn ở lại với ai. Sau khi cô đi vài tuần thì tụi tôi xuống Bạc Liêu. Cứ tưởng là được đi liền, nhè đâu bị kẹt lại đó hai tháng. Đến khi đi được, lại không vào thẳng Bidong nầy mà lại ghé một đảo kế bên… Ở đó lâu tới một tháng. Kể mất tất cả là ba tháng bỏ phí vô ích!
Cô Hà nhờ cơm gạo Bidong nên có vẻ mập, tròn hơn trước:
-Tôi đến đây kể trên bốn tháng rồi, xin đi Mỹ không được, bây giờ chuyển qua đi Úc… Tôi có một mình, nên Úc dễ nhận hơn, cái xứ gì chỉ nhận đàn bà, con gái độc thân.
Rồi cô hỏi tiếp:
-Lúc tôi tới Bidong có đánh điện tín về, không biết ở nhà có nhận được không? Tôi trông hoài mà không thấy thơ từ gì hết. Hỏi thăm không ai biết…
Tôi trả lời mau mắn:
-Có, ở nhà hai bác có nhận được điện tín của cô. Bác Hai mừng lắm, có đem lên nhà cho tôi coi.
Cô Hà xúc động mừng rỡ:
-Trời, vậy mà tôi lo nó không tới. Tội nghiệp ông già, bà già…
-Bửa đó ngày Tết Dương Lịch mà, tôi còn nhớ rõ bác gái khi nhận, đọc chữ ‘bình an’ thành ra ‘bị nạn’. Bả mừng quá nên mắt mờ luôn, đọc hết nổi.
Cô hỏi nữa như không tin chuyện ba má cô nhận được điện tín là có thật:
-Rồi anh có gặp ba tôi không? Anh thấy lúc đó ổng ra sao?
-Ờ, ờ bác trai cũng vui lắm. Mỗi lần ổng nói chuyện là cứ nhắc ‘con Hà nhỏ’ hoài. Chà, con gái cưng mà, cô là người vượt biên đầu tiên trong đám bạn bè ở tỉnh, ai cũng nễ hết…
Má Bi xen vô:
-Cô Hà biết không khi cô đi rồi, có một người buồn lắm! Cô phải hối lộ cái gì đi, thì tôi mới nói ra người đó là ai?
-Trời, em mà có ai thương yêu? Nếu có người nào để ý thì em đâu có đi làm chi. Mà người đó là ai vậy chị?
-Tôi không nói đâu. Bây giờ có nói ra thì cũng góc biển chơn trời hết rồi... Hổng lẽ cô vượt biên trở về Bình Dương!
Trong bóng đêm, cô cựu hiệu trưởng ngồi im thẩn thờ. Những người bạn cũ cùng một góc trời quê hương hiện lên rõ nét. Những con đường làng đầy bóng tre xanh, những dãy lò chén khói lên ngùn ngụt, những hầm đất sét vàng sệt, những buổi tiệc ăn uống vui đùa… còn gì nữa, mái trường Cấp Ba Thị Xã và những đồng nghiệp quen thân.
Bỗng nhiên, cô hỏi:
-Anh Hưng, anh Sanh, bây giờ ra sao? Anh Trầm nữa?
-Chút nữa tôi quên, nói cho cô mừng, anh Sanh bây giờ thành bác sĩ châm cứu rồi. Trước khi đi có gặp, ảnh đưa khoe cái giấy của Ủy Ban Nhân Dân Xã cấp cho phép được làm bác sĩ châm cứu… Bây giờ ai cũng kêu ảnh là bác sĩ hết. Ngon lành chưa?
Cô Hà cười ngất:
-Còn anh Trầm?
-Anh Trầm cũng giàu lắm. Ảnh chạy áp phe rất giỏi. Chuyên môn mua thịt heo bò lậu trong các làng xa, nhét trong cốp xe Vespa chạy về chợ Bến Thành để bán…
Bẵng đi một hồi, cô hỏi tiếp, giọng ngập ngừng:
-Rồi anh Thạnh…
Tôi nghe trong hơi thở cô có cái gì xa vắng, mênh mông. Tại sao cô lại để anh bạn nầy sau hai anh kia?
-Anh Thạnh cũng còn đi dạy như thường, chưa đổi nghề mới. Ảnh thường nhắc tới cô hoài, trước khi đi tôi có đến từ biệt, anh chàng coi tiều tụy xác xơ lắm…
Cô ngồi im không nói. Tôi nghe tiếng gió đập phần phật trên nóc lều. Chiều nay Tiến và Chiêu vừa mới lợp thêm một lớp bạt ny lông mới cho đỡ nóng. Chị Liêu Thạnh mua dùm giá ba mươi đồng. Có lẽ một góc nào đó cột chưa được chắc nên bị gió thổi tung. Ngày mai có thì giờ rảnh leo lên cột lại, cũng dễ lắm. Nhưng trong đời có nhiều chuyện chỉ cần một sơ sót nhỏ hay một vô tình, thời gian đưa đẩy, tất cả đều thay đổi hết, làm sao mà vá víu lại cho được. Như chuyện tình yêu…
Duyên ngồi sát lại cô Hà, nói:
-Cô Hà biết không, anh Thạnh thường tâm sự với hai đứa tôi, không biết tại sao mỗi lần gặp cô là mọi dự định gì cũng không dám nói…
-Như vậy là ảnh đâu có thương yêu gì em?
-Đâu phải như vậy, ảnh cũng ăn nói ồn ào lắm chớ, cô thấy ảnh dạy học thì biết, có lẽ cô đẹp và giàu hơn nên ảnh nghĩ là không sánh bì được. Đàn ông ưa bị mặc cảm thua kém…
Tôi xen vô nói phân hai:
-Tôi thì thấy như vầy, nếu hai bên mà thương nhau thiệt tình thì dầu có muôn ngàn khó khăn cách trở cũng thành chồng vợ được.. Còn nếu không thương hoặc tình thương chưa đủ thì dầu có lấy xiềng cột cho dính nhau cuối cùng cũng tan vỡ… Biết đâu một ngày đẹp trời nào đó, ổng cũng lót tót qua tới Bidong nầy cho coi!
Câu chuyện kéo dài cho tới khuya. Hai bên hàn huyên, đối đáp nhau trong bóng đêm chập choạng. Chỉ nghe có âm thanh, tiếng nói, tiếng cười, tiếng thở và tiếng động xung quanh. Cô Hà từ giả ra về, có cậu con chị Mỹ Á hộ tống. Ánh đèn bấm lấp lóa, rọi dài theo con đường hẽm nhỏ. Bidong về khuya, người và vật ngủ im lìm sau một ngày mệt mỏi chen lấn nhau. Tôi nằm trên cái nệm cây sần sùi, lăn qua trở lại, nhớ miên man những bạn cũ còn ở quê nhà, mới ngày nào còn xum họp đông đảo vui vầy, bây giờ xa cách nhau một đại dương… Cũng may còn gặp được cô Hà nơi đất khách. Ước gì gặp lại nhau được hết nơi đây, anh Hưng, anh Thạnh, anh Sanh, anh Trầm... Nhưng niềm uớc ao nầy chắc khó thành, vì bạn nào cũng nghèo quá, lo ăn còn chưa đủ, nói chi tới những dự tính xa vời. Người nghèo dầu ở chế độ nào cũng là kẻ thiệt thòi hơn hết. Cuộc chiến tranh tương tàn kéo dài ba mươi năm, cuối cùng thì người lao động quần quật ở rừng sâu, người sống lây lất ở thành phố và một số nhỏ, rất nhỏ được coi là may mắn thì lang thang nơi đất lạ quê người…! Có tiếng sóng chập chùng ở cuối bãi, chắc nước thủy triều đã dâng lên cao tới sát vách đá. Cái lều cây chơ vơ lơ lửng ở giữa triền, tôi có cảm giác bập bềnh như đang nằm trên ghe, bốn phía đều là sóng lớn dào dạt…
*
* *
Nắng vàng tươi trên các lối, tôi và Duyên len trong đám đông đi về phía hội trường. Mới hơn tám giờ sáng sao mà người đông quá sức phải chen mà đi. Tâm Bi được mẹ bồng đưa cánh tay mũm mĩm, chỉ chỏ hết chỗ nầy đến chỗ kia, miệng bi bô coi điệu mừng rỡ. Thằng nhỏ ngày nào cũng được mấy chú, mấy cô bồng bế đi chơi nên khoái lắm. Sáng nay Bi cũng được đi chơi, lại được bận đồ đẹp đẽ hơn ngày thường nghĩa là có bận đủ quần và áo. Mọi khi Bi chỉ có quần mà không có áo hoặc ngược lại, có áo mà không có quần. Quần cứ bị uớt hoài, giặt phơi không kịp khô! Bộ đồ sọc xanh có quai tréo được Duyên lấy trong xách tay ra, còn nguyên nếp xếp hăng hăng mùi vải mới, bận vô coi Bi đẹp trai hơn ngày thường. Duyên cũng mặc một cái áo mới màu trắng đơn giản. Tôi đi trước dẫn đường, mồ hôi rịn ra trên lưng. Cả tuần rồi ở trần trùi trụi nên quen da, bữa nay mặc lại áo tuy chọn cái ngắn tay, vẫn cảm thấy vướng víu nực nội.
Từng cơn gió ngoài khơi thổi đong đưa các tàu dừa xanh mướt loang loáng nắng vàng nhưng không đủ mát cho người ngoài đường. Những mái lều xanh màu ngọc thạch, căng lưng hứng hết hơi nóng nhiệt đới từ trên cao đổ ập xuống. Trên các đường nhỏ ngột ngạt, hàng ngàn người di chuyển tới lui rộn ràng như đàn kiến kéo nhau đi tìm mồi. Một đám kiến đông nghẹt đang đứng sắp hàng trước hội trường, tất cả tôi đều quen biết, đàn kiến của ghe BL 1648 hôm nay tụ tập lại đây để lập hồ sơ ghi danh chánh thức là dân tỵ nạn Liên Hiệp Quốc. Anh Tư mặc áo trắng bong tay dài, có gài nút vàng hực hỡ, giày da đen đánh bóng soi gương được. Chị Tư và Mỹ Thanh vòng vàng, hột xoàn lấp lánh.. như đi dạ tiệc. Tôi chào từng người và hỏi:
-Anh Tư tới lâu chưa, sao chưa thấy anh chị Thuần với vợ chồng Quách Linh Hoạt?
Anh Tư Trần Hưng Đạo nhờ ăn mặc kỹ lưỡng nên coi trẻ hơn lúc trước, nói cười tươi rói:
-Mấy ông bà đó mua nhà tuốt trên khu E, từ trên sườn núi mà đi tới đây chắc cũng phải cả giờ…
Tôi thoáng thấy cái mề đay vàng đeo lủng lẳng bên trong áo. Ông bà nầy hay thiệt, hồi ở đảo Dừa, tụi Mã Lai xét rất kỹ đồ đạc, hành lý, vậy mà vẫn còn dấu được y nguyên, không mất mát món nào. Dân buôn bán thường thì khá giả hơn giới công chức quân nhơn. Anh Thuần và Quách Linh Hoạt ít tiền hơn, đành phải leo tuốt lên núi che lều. Muốn đi tới khu E phải từ hội trường nầy, vượt qua không biết bao nhiêu lều trại, đồi dốc dựng ngược mới tới được. Mỗi lần lên trên đó thăm bạn là tay chưn tôi rã rời, thở hết muốn nổi. Miệt đó khoảng lưng chừng núi, phía sau là rừng cây, bất tiện đủ mọi điều, duy có việc kiếm củi là tiện nhứt, không phải đi xa.
Chị Tư đứng kế bên phân trần:
-Hai vợ chồng tôi con cái đông quá, đứa nào đứa nấy còn nhỏ xíu thành ra phải rán sức mua cái lều ở khu A nầy, chớ thiệt ra cũng không dư dả gì nhiều…
Anh Tư chen vô:
-Phải chi hồi bữa mới tới, ghe mình được mở hồ sơ Cao Ủy ngay, thì có thể vô gặp phái đoàn Canada tới kỳ rồi Thiệt xui hết sức, nó nhận trên năm trăm người mà không cần điều kiện gì hết…
Tôi góp chuyện:
-Ừ, ừ, ở đây ai cũng muốn đi Mỹ, chớ không thèm Canada, một phần Canada yếu quá, hai là lạnh quá. Người ta chê… thì mình xin chắc được!
Tiến và Chiêu sau một hồi đi vòng vo trở về. Tiến hỏi:
-Bữa nay mình khai lý lịch cho Cao Ủy Tỵ Nạn mà trong tay không có một giấy tờ nào lận lưng, rồi làm sao chứng minh, ai tin?
Anh Tư khoát tay:
-Đừng lo, bồ ơi, chuyện gì tôi không biết, chớ chuyện đó thì rành sáu câu. Nhà tôi ở sát vách hội trường, nghe thiên hạ kể lại đầy lỗ tai. Ai muốn khai gì cứ khai, tha hồ. Trung sĩ lên thành Trung úy, y tá lên bác sĩ, thợ máy khai kỹ sư, học lớp mười khai tốt nghiệp Đại học, có vợ năm con cứ khai còn độc thân… rồi nhiều khi đổi luôn cả tên tuổi! Cứ nói giấy tờ rớt hết xuống biển là xong, dễ ợt! Tụi phái đoàn phỏng vấn cũng không thèm kiểm chứng, chỉ trừ có Mỹ là hơi rắc rối với cựu quân nhân, công chức vì hồ sơ lý lịch còn lưu trữ đầy đủ, còn các nước khác thì đâu cần biết tới làm chi cho mất công.
Tiến suy nghĩ một hồi rồi lẩm bẩm:
-Đâu có được, nếu mà khai bậy bạ lung tung như vậy thì giấy tờ bằng cấp kể như bỏ hết!
Anh Tư cười ha hả:
-Tại bồ có bằng cấp cao thì sợ là phải, nếu khai trật là kể như phải học lại từ đầu, còn như tụi tôi trụi lũi, dầu có khai gì đi nữa thì cũng đâu có làm gì được…
Chiêu nãy giờ đứng im nghe đối đáp, bây giờ mới thủng thẳng nói:
-Cũng được chớ anh Tư, trường hợp của anh thì không cần khai học tới kỹ sư, bác sĩ gì, chỉ cần bớt chút đỉnh…
Anh Tư nôn nóng:
-Bớt cái gì chút đỉnh?
Chiêu ngó chị Tư rồi cười:
-Thì anh bớt lại chừng mười tuổi, còn tình trạng gia đình thì đề là độc thân…
Chị Tư Trần Hưng Đạo háy chồng một cái dài hàng cây số :
-Xí, chú Chiêu tưởng anh Tư ngon lắm hả. Phải chi có cô nào chịu, rước phức ổng đi cho tui nhờ, già cúp bình thiếc rồi, dầu có khai thấp khai cao gì, cũng đâu có gạt ai được…
Tôi muốn chọc chị Tư cho vui, bèn nói:
-Cũng chưa biết đâu à nghen, cái gì cũng phải làm thử mới biết thiệt hư. Tôi nhớ hồi còn ở đảo Dừa có cô gì đẹp đẹp đó, cứ theo nói chuyện với anh Tư hoài…, làm tôi ghen hết sức!
Chị Tư nắm lấy tay Duyên:
-Nè, cô Duyên, nghe mấy ổng nói chuyện đã thèm chưa. Ông nào cũng như ông nấy, quá trời!
Duyên cười:
-Hơi đâu mà chị nghe, người nào mà ưa nói được người nầy yêu, được người kia thương, là người đó không có ai yêu thương hết. Họ phải nói như vậy để che dấu khuyết điểm… Còn ông nào lầm lầm, lỳ lỳ, không nói gì hết thì mình phải sợ, phải đề phòng…
Hàng người di chuyển dần dần tới trước, nhờ nói chuyện tầm phào mà tôi tiến sát tới nơi khai báo hồi nào không hay. Đó là ba cái bàn bằng gỗ tạp được kê sát vô vách trái của phòng hội. Trên bàn có để các mẫu giấy để người tỵ nạn tự ý điền vào. Tôi đến trước thuận tay lấy hai tấm, một cho tôi và một cho Duyên, xong rồi cả hai ngồi xuống điền các chi tiết được hỏi. Tôi liếc nhanh qua những hàng chữ và ngạc nhiên nói với vợ:
-Em coi nè, tờ khai lý lịch của Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc sao mà đơn giản quá vậy?.
Duyên cũng đã đọc qua nói:
-Ờ, ít quá, chỉ có hỏi tên tuổi, ngày và nơi sanh, nghề nghiệp, ngày đến đảo… Rồi kêu chọn theo thứ tự ba nước muốn đi định cư… Thôi vậy cũng gọn, khỏi phải dài dòng lôi thôi như Việt Cộng.
Nghe nàng nói tôi nhớ lại những ngày đầu tháng 5 năm 1975 tôi và Duyên phải đến trình diện ở Tòa Án Bình Dương để làm tờ khai lý lịch với Ủy Ban Quân Quản của Tỉnh. Ở đó tôi gặp lại hầu hết các giáo sư bạn bè, những công chức của các ty sở. Người nào người nấy câm nín, lặng thinh, ngồi đứng rón rén sợ sệt, đầy vẻ nhẫn nhục, chịu đựng của người bại trận. Tôi ngồi trên cái băng cây, cầm xấp giấy được phát, vừa đọc vừa rùng mình. Dễ sợ thiệt. Những câu hỏi dầy đặc bao quanh cuộc đời từ ông cố, ông nội, đời cha rồi tới đời con, đời cháu. Bên nội, bên ngoại,.. hàng xóm, gần xa.. Rồi tới chuyện tốt chuyện xấu, thương ai ghét ai, có cần tố cáo gì với nhân dân, đảng và nhà nước sẵn sàng lắng nghe và giúp đỡ. Mẫu khai lý lịch đơn giản đó, sơ sơ gần mười trang, tuy là những tờ giấy mỏng tanh nhưng nó có sức nặng như đá tảng. Tôi đã viết miên man như người lên đồng, đầu óc nóng bừng bừng. Cũng may tôi chỉ là một thầy giáo ở tỉnh lẻ tầm thường… Tôi không thể tưởng tượng một vị chính khách, một bộ trưởng hay một tướng lãnh mà cuộc đời các vị đó là một chuỗi dài biến cố thì bảng lý lịch phải tới bao nhiêu trang? Một trăm, hai trăm, một ngàn, hai ngàn... hay nhiều hơn nữa? Chưa bao giờ và ở đâu, đời tư con người được khai thác tận tình như dưới chế độ Cộng sản. Nghe bao nhiêu lời truyền tụng, đọc bao nhiêu sách vở, cũng không bằng thực sự sống trong lòng chế độ một ngày. Chỉ một ngày thôi cũng đủ biết đá biết vàng, nói chi đến năm mười năm hay dài lâu hơn nữa…
Duyên day qua hỏi tôi:
-Mình chọn Canada ưu tiên một, Úc ưu tiên hai phải không anh?
-Em suy nghĩ kỹ lại coi, nếu muốn chọn Hoa Kỳ, vợ chồng mình cũng có đủ điều kiện .. nhưng phải chờ lâu lắm đó. Có người chờ năm, bảy tháng, một năm mà cũng chưa nhúc nhích! Úc thì cũng đi lẹ nhưng gần khu vực Đông Nam Á quá, biết đâu một ngày nào đó tụi nó len lỏi tới, mình phải chèo ghe đi trốn một lần nữa… Theo anh nên chọn Canada cho gọn, dễ đi, chớ tình trạng ở đảo như vầy, kéo dài tháng nầy qua tháng kia, rủi ro bịnh họan thì làm sao!
Út Trung xách tờ khai lại gần tôi nói:
-Em chọn Huê Kỳ ưu tiên một, Canada kế. Bên Huê Kỳ, khoa học kỹ thuật cao, mình có thể theo học được, nó lại giàu mạnh nhứt thế giới. Anh chị đổi lại đi, qua Mỹ với em cho vui.
Sơn chọn Mỹ và Tây Đức. Còn Dân gì đó thì cầm giấy, đứng ngó hết người nầy tới người kia, cuối cùng nó chạy lại tôi, miệng nói tía lia:
-Anh chị tính lựa đi định cư xứ nào? Sao người ta tốt quá, cho mình đi mấy xứ văn minh như bên Tây bên Mỹ gi đó, em thấy chỗ nào cũng được hết. Để em hỏi thử coi, em chọn ba nước mà nuớc nào cũng ưu tiên một hết, có được gì đó không?
Tôi trả lời dùm cho nó:
-Đâu có được Dân, nếu em chọn ba nước cùng ưu tiên một, làm sao người ta cứu xét. Thôi, hay là em chọn Canada để đi với anh chị đi.
Thằng nhỏ không đắn đo gì hết, chìa tờ giấy ra, miệng cười cười:
-Thôi, sẵn viết gì đó, nhờ anh ghi vô dùm. Anh muốn ghi gì đó thì cứ ghi, em đâu có biết nước nào ở đâu, miễn làm sao đi cho lẹ lẹ gì đó là được.
Tôi vừa ghi cho nó, vừa nói:
-Canada thì lạnh lắm đó nghen, chỗ nào cũng đóng nước đá hết. Mai mốt bị lạnh teo ruột teo gan thì đừng có bắt đền nghe không!
Dân gì đó cười hì hì:
-Anh nói vậy chớ, đâu có chỗ nào lạnh dữ quá gì đó. Chắc bên đó cũng y như trên Đà Lạt, anh chị chịu được thì em cũng chịu được gì đó, em hổng lo…
Tôi cầm tờ giấy đã khai đến nộp cho một nhân viên ngối sau bàn giấy. Anh kiểm sóat lại coi có điền đầy đủ các chi tiết và chữ ký đúng thủ tục hay không. Công việc giải quyết nhanh chóng. Chỉ trong vòng hai tiếng đồng hồ, gần trên năm trăm người của đảo Kapas đưa qua, đã làm thủ tục ghi tên tỵ nạn với Cao Ủy Liên Hiệp Quốc ở đảo Bidong một cách thật gọn gàng. Quang cảnh đã thưa bớt. Khai xong mọi người tản mát ra về.
Tư Trần Hưng Đạo rủ tôi ghé nhà anh chơi. Thuận đường về tôi rủ Duyên ghé vào cho biết thế nào là một căn lều sang trọng ở khu A. Căn lều khá lớn, y như một cái nhà tranh nhỏ ở thôn quê, nhìn qua bên kia đường là phòng thông tin của đảo. Bước vào trong, không khí mát hẳn, chắc là nhờ trần cao và rộng, bên trên lại có những tàn dừa che rợp, ngăn bớt được sức nóng mặt trời. Tôi vọt miệng khen:
-Trời, biệt thự của hai ông bà sang quá. Ở đây mà làm sao có được bộ ván phẳng phiu như vậy... rồi phía trước còn rộng rinh, phía sau làm bếp. Đã thiệt!
Anh Tư đã cởi áo ngoài, chỉ cho tôi cái giếng nước được đào sát bên vách:
-Bồ coi nè, có cái giếng trong nhà, cũng tiện lắm. Khỏi phải đi xa, giành giựt chờ đợi.
Tôi thấy một cái giếng hình vuông vức chừng một thước, nước đen tối hù bên dưới không biết sạch hay dơ. Những nhà rộng, người ta thường đào giếng ngay bên trong để có nước mà dùng. Đằng nhà anh Liêu Thạnh cũng có, khi nào giếng của đảo cạn nước, tôi thường xách thùng lại ảnh mà xin. Cả đảo chừng cũng có trên vài trăm cái, kiểu nầy. Mùa khô cạn nước, người ta đào xới tứ tung. Chị Tư vừa rót nước mời khách, vừa nói:
-Nhà rộng vậy chớ phải chia ba đó. Phần của tụi tôi chỉ có bộ ván nầy. Phía trước và phía sau của chủ khác. Vậy mà phải mua tới năm trăm đồng.
Lều ở Bidong lúc đó có giá lắm. Người đông, đảo lại hẹp nên giá cả tăng vọt. Trung bình một căn nhà nhỏ ngang ba thước, dài bốn thước, bán độ ba trăm đồng Mã Lai. Vàng một chỉ giá sáu mươi đồng. Như vậy tương đương với năm chỉ vàng. Anh Tư nói:
-Thấy thì rộng vậy, chớ đám hát của tụi tôi đông quá, có lẽ phải kiếm mua thêm một cái nữa để chia bớt ra, đêm nào ngủ cũng có đứa bị đạp lọt xuống đất. Ở đây được cái tiện là ở sát hội trường, trung tâm của đảo. Tin tức định cư gì tôi cũng biết hết. Suốt ngày nghe tin phái đoàn đến, tin phái đoàn đi, tin ghe vượt biên, tin các người thân thuộc đến đảo, tin hầm bà lằng… hai ông bà cần biết chuyện gì cứ hỏi, tôi nói cho nghe.
Rồi anh tiếp:
-Ngon lành nhứt ghe mình là Hủ Tiếu. Thằng chả đem được vàng nhiều quá, của tụi mình đóng chớ của ai, mua cái nhà lớn mấy ngàn đồng, bên kia đường đối diện với trạm Cảnh Sát. Nhà chia làm nhiều phòng, nhiều giuờng vì bộ hạ của chả khá đông. Gia đình Hủ Tiếu đi tòan bộ từ bà mẹ già tới mấy đứa cháu nội, cháu ngoại còn ẳm trên tay. Người Tàu họ làm ăn giàu hơn người mình. Vừa tới được một hai ngày gì đó, mua nhà xong bèn lên đồi trực thăng ở khu F móc đất sét đắp thành lò bánh mì. Bột mì ở đây rẻ và bột nổi rất tốt. Ông ta bán một đồng bốn ổ bánh nhỏ. Bánh nóng xốp, thơm ngon và rất dòn. Cây củi thì chặt ở trên núi, thiếu gì…
Tôi cười và nói:
-Vậy Hủ Tiếu lúc nào cũng là người cung cấp dịch vụ, còn tụi mình là người tiêu thụ… Nói rõ hơn theo nghĩa đen, Hủ Tiếu lúc nào cũng có tiền, còn tụi mình lúc nào cũng hết tiền.
Duyên níu lấy tay tôi:
-Thôi, thôi, ông ơi, trưa nóng quá rồi, mình về để anh chị Tư còn lo cơm nước, chuyện Hủ Tíu để thủng thẳng nói tiếp, mình còn ở Bidong nầy lâu lắm mà…
-Ừa, về thì về nhưng để rủ anh Tư chiều nay đi tắm cho vui…
Anh Tư vừa uống nước vừa nói:
-Khi nào bồ đi ngang hú tôi một tiếng là xong ngay, rủ thêm ‘dà’ Sơn với Dân ‘gi đó’ cho đủ bộ..
Giờ nầy cả đảo như bị nung chín, vừa bước ra khỏi cửa hẹp hơi nóng hâm hấp táp vào mặt, tôi vội mở vài nút áo cho thoáng. Con đường về nhà sao mà quá dài, đi hoài cũng chưa tới, chiếc dép lại sứt quai, khiến bước chưn khập khiểng. Những chiếc lều nép sát vào nhau núp nắng, đưa cái nóc xanh ra hứng hết cơn nóng buổi trưa. Mồ hôi đã tươm ra đầy mặt đầy lưng, tôi cởi luôn cái áo vắt vai, mong chờ một cơn gió mát từ khơi xa xăm thổi tới… Bidong sao mà nóng bức quá, những đọt dừa vàng ẻo, những da người đen thui.
VÕ KỲ ĐIỀN
HẢI ĐẢO BUỒN LÂU BI ĐÁT
Những thân dừa trơ ra dưới nắng cháy. Những mái lều xanh hình như không đủ sức che mát cho những con người khốn khổ chui rúc phía dưới. Nắng cháy trên đầu, nắng phỏng dưới chưn. Tôi phải chen lấn trong đám đông hỗn độn, ồn ào đủ thứ âm thanh, đủ loại màu sắc để đi cho lọt, về được tới lều thì trời đã trưa. Bidong bị phơi khô, đang bốc hơi ngùn ngụt và sắp tan thành nước… Ở đảo chiều xuống rất mau, khoảng bảy giờ thì trời đã tối hù. Một phần thì mặt trời xuống thấp, một phần lều bị che kín mít bốn bên, ánh sáng le lói buổi chiều tà đâu còn ngõ nào mà chun vô trong cho được. Cơm nước cũng vừa xong, nếu không có việc gì phải ra ngoài, thì chỉ có nước đi ngủ. Không có đèn sáp mà cũng chẳng có đèn dầu, tất cả đều bị bỏ lại ở Kapas. Tôi ngồi trong một góc sàn, thoải mái. Hơi mát buổi tối làm cho mọi người tươi tỉnh trở lại. Vợ chồng, anh em, quây quần kể chuyện cho nhau nghe những việc xảy ra trong ngày. Cái sàn tuy rất chắc nhưng nhỏ và chật quá, chỉ xê qua xích lại một hai tấc thôi.
Nói ba điều bốn chuyện thì có tiếng chào rào, chộn rộn ngoài cửa. Tiếng một thanh niên người Tàu lai líu lo. À, thì ra thằng con chị Mỹ Á dắt cô Lý Tố Hà đến thăm. Trong bóng tối mờ mờ, cô Hà leo lên gác, mắt nhìn quanh, gặp Duyên và tôi, mừng rỡ hỏi dồn:
-Ủa, có hai anh chị đi chuyến nầy nữa sao? Vậy mà tôi cứ tưởng chỉ có mấy em... Nghe nói đi cả hai ba tháng trước rồi mà, sao bây giờ mới tới đây?
-Ừ, thì cũng phải rán, chớ thiên hạ xúm nhau đi hết rồi mình còn ở lại với ai. Sau khi cô đi vài tuần thì tụi tôi xuống Bạc Liêu. Cứ tưởng là được đi liền, nhè đâu bị kẹt lại đó hai tháng. Đến khi đi được, lại không vào thẳng Bidong nầy mà lại ghé một đảo kế bên… Ở đó lâu tới một tháng. Kể mất tất cả là ba tháng bỏ phí vô ích!
Cô Hà nhờ cơm gạo Bidong nên có vẻ mập, tròn hơn trước:
-Tôi đến đây kể trên bốn tháng rồi, xin đi Mỹ không được, bây giờ chuyển qua đi Úc… Tôi có một mình, nên Úc dễ nhận hơn, cái xứ gì chỉ nhận đàn bà, con gái độc thân.
Rồi cô hỏi tiếp:
-Lúc tôi tới Bidong có đánh điện tín về, không biết ở nhà có nhận được không? Tôi trông hoài mà không thấy thơ từ gì hết. Hỏi thăm không ai biết…
Tôi trả lời mau mắn:
-Có, ở nhà hai bác có nhận được điện tín của cô. Bác Hai mừng lắm, có đem lên nhà cho tôi coi.
Cô Hà xúc động mừng rỡ:
-Trời, vậy mà tôi lo nó không tới. Tội nghiệp ông già, bà già…
-Bửa đó ngày Tết Dương Lịch mà, tôi còn nhớ rõ bác gái khi nhận, đọc chữ ‘bình an’ thành ra ‘bị nạn’. Bả mừng quá nên mắt mờ luôn, đọc hết nổi.
Cô hỏi nữa như không tin chuyện ba má cô nhận được điện tín là có thật:
-Rồi anh có gặp ba tôi không? Anh thấy lúc đó ổng ra sao?
-Ờ, ờ bác trai cũng vui lắm. Mỗi lần ổng nói chuyện là cứ nhắc ‘con Hà nhỏ’ hoài. Chà, con gái cưng mà, cô là người vượt biên đầu tiên trong đám bạn bè ở tỉnh, ai cũng nễ hết…
Má Bi xen vô:
-Cô Hà biết không khi cô đi rồi, có một người buồn lắm! Cô phải hối lộ cái gì đi, thì tôi mới nói ra người đó là ai?
-Trời, em mà có ai thương yêu? Nếu có người nào để ý thì em đâu có đi làm chi. Mà người đó là ai vậy chị?
-Tôi không nói đâu. Bây giờ có nói ra thì cũng góc biển chơn trời hết rồi... Hổng lẽ cô vượt biên trở về Bình Dương!
Trong bóng đêm, cô cựu hiệu trưởng ngồi im thẩn thờ. Những người bạn cũ cùng một góc trời quê hương hiện lên rõ nét. Những con đường làng đầy bóng tre xanh, những dãy lò chén khói lên ngùn ngụt, những hầm đất sét vàng sệt, những buổi tiệc ăn uống vui đùa… còn gì nữa, mái trường Cấp Ba Thị Xã và những đồng nghiệp quen thân.
Bỗng nhiên, cô hỏi:
-Anh Hưng, anh Sanh, bây giờ ra sao? Anh Trầm nữa?
-Chút nữa tôi quên, nói cho cô mừng, anh Sanh bây giờ thành bác sĩ châm cứu rồi. Trước khi đi có gặp, ảnh đưa khoe cái giấy của Ủy Ban Nhân Dân Xã cấp cho phép được làm bác sĩ châm cứu… Bây giờ ai cũng kêu ảnh là bác sĩ hết. Ngon lành chưa?
Cô Hà cười ngất:
-Còn anh Trầm?
-Anh Trầm cũng giàu lắm. Ảnh chạy áp phe rất giỏi. Chuyên môn mua thịt heo bò lậu trong các làng xa, nhét trong cốp xe Vespa chạy về chợ Bến Thành để bán…
Bẵng đi một hồi, cô hỏi tiếp, giọng ngập ngừng:
-Rồi anh Thạnh…
Tôi nghe trong hơi thở cô có cái gì xa vắng, mênh mông. Tại sao cô lại để anh bạn nầy sau hai anh kia?
-Anh Thạnh cũng còn đi dạy như thường, chưa đổi nghề mới. Ảnh thường nhắc tới cô hoài, trước khi đi tôi có đến từ biệt, anh chàng coi tiều tụy xác xơ lắm…
Cô ngồi im không nói. Tôi nghe tiếng gió đập phần phật trên nóc lều. Chiều nay Tiến và Chiêu vừa mới lợp thêm một lớp bạt ny lông mới cho đỡ nóng. Chị Liêu Thạnh mua dùm giá ba mươi đồng. Có lẽ một góc nào đó cột chưa được chắc nên bị gió thổi tung. Ngày mai có thì giờ rảnh leo lên cột lại, cũng dễ lắm. Nhưng trong đời có nhiều chuyện chỉ cần một sơ sót nhỏ hay một vô tình, thời gian đưa đẩy, tất cả đều thay đổi hết, làm sao mà vá víu lại cho được. Như chuyện tình yêu…
Duyên ngồi sát lại cô Hà, nói:
-Cô Hà biết không, anh Thạnh thường tâm sự với hai đứa tôi, không biết tại sao mỗi lần gặp cô là mọi dự định gì cũng không dám nói…
-Như vậy là ảnh đâu có thương yêu gì em?
-Đâu phải như vậy, ảnh cũng ăn nói ồn ào lắm chớ, cô thấy ảnh dạy học thì biết, có lẽ cô đẹp và giàu hơn nên ảnh nghĩ là không sánh bì được. Đàn ông ưa bị mặc cảm thua kém…
Tôi xen vô nói phân hai:
-Tôi thì thấy như vầy, nếu hai bên mà thương nhau thiệt tình thì dầu có muôn ngàn khó khăn cách trở cũng thành chồng vợ được.. Còn nếu không thương hoặc tình thương chưa đủ thì dầu có lấy xiềng cột cho dính nhau cuối cùng cũng tan vỡ… Biết đâu một ngày đẹp trời nào đó, ổng cũng lót tót qua tới Bidong nầy cho coi!
Câu chuyện kéo dài cho tới khuya. Hai bên hàn huyên, đối đáp nhau trong bóng đêm chập choạng. Chỉ nghe có âm thanh, tiếng nói, tiếng cười, tiếng thở và tiếng động xung quanh. Cô Hà từ giả ra về, có cậu con chị Mỹ Á hộ tống. Ánh đèn bấm lấp lóa, rọi dài theo con đường hẽm nhỏ. Bidong về khuya, người và vật ngủ im lìm sau một ngày mệt mỏi chen lấn nhau. Tôi nằm trên cái nệm cây sần sùi, lăn qua trở lại, nhớ miên man những bạn cũ còn ở quê nhà, mới ngày nào còn xum họp đông đảo vui vầy, bây giờ xa cách nhau một đại dương… Cũng may còn gặp được cô Hà nơi đất khách. Ước gì gặp lại nhau được hết nơi đây, anh Hưng, anh Thạnh, anh Sanh, anh Trầm... Nhưng niềm uớc ao nầy chắc khó thành, vì bạn nào cũng nghèo quá, lo ăn còn chưa đủ, nói chi tới những dự tính xa vời. Người nghèo dầu ở chế độ nào cũng là kẻ thiệt thòi hơn hết. Cuộc chiến tranh tương tàn kéo dài ba mươi năm, cuối cùng thì người lao động quần quật ở rừng sâu, người sống lây lất ở thành phố và một số nhỏ, rất nhỏ được coi là may mắn thì lang thang nơi đất lạ quê người…! Có tiếng sóng chập chùng ở cuối bãi, chắc nước thủy triều đã dâng lên cao tới sát vách đá. Cái lều cây chơ vơ lơ lửng ở giữa triền, tôi có cảm giác bập bềnh như đang nằm trên ghe, bốn phía đều là sóng lớn dào dạt…
*
* *
Nắng vàng tươi trên các lối, tôi và Duyên len trong đám đông đi về phía hội trường. Mới hơn tám giờ sáng sao mà người đông quá sức phải chen mà đi. Tâm Bi được mẹ bồng đưa cánh tay mũm mĩm, chỉ chỏ hết chỗ nầy đến chỗ kia, miệng bi bô coi điệu mừng rỡ. Thằng nhỏ ngày nào cũng được mấy chú, mấy cô bồng bế đi chơi nên khoái lắm. Sáng nay Bi cũng được đi chơi, lại được bận đồ đẹp đẽ hơn ngày thường nghĩa là có bận đủ quần và áo. Mọi khi Bi chỉ có quần mà không có áo hoặc ngược lại, có áo mà không có quần. Quần cứ bị uớt hoài, giặt phơi không kịp khô! Bộ đồ sọc xanh có quai tréo được Duyên lấy trong xách tay ra, còn nguyên nếp xếp hăng hăng mùi vải mới, bận vô coi Bi đẹp trai hơn ngày thường. Duyên cũng mặc một cái áo mới màu trắng đơn giản. Tôi đi trước dẫn đường, mồ hôi rịn ra trên lưng. Cả tuần rồi ở trần trùi trụi nên quen da, bữa nay mặc lại áo tuy chọn cái ngắn tay, vẫn cảm thấy vướng víu nực nội.
Từng cơn gió ngoài khơi thổi đong đưa các tàu dừa xanh mướt loang loáng nắng vàng nhưng không đủ mát cho người ngoài đường. Những mái lều xanh màu ngọc thạch, căng lưng hứng hết hơi nóng nhiệt đới từ trên cao đổ ập xuống. Trên các đường nhỏ ngột ngạt, hàng ngàn người di chuyển tới lui rộn ràng như đàn kiến kéo nhau đi tìm mồi. Một đám kiến đông nghẹt đang đứng sắp hàng trước hội trường, tất cả tôi đều quen biết, đàn kiến của ghe BL 1648 hôm nay tụ tập lại đây để lập hồ sơ ghi danh chánh thức là dân tỵ nạn Liên Hiệp Quốc. Anh Tư mặc áo trắng bong tay dài, có gài nút vàng hực hỡ, giày da đen đánh bóng soi gương được. Chị Tư và Mỹ Thanh vòng vàng, hột xoàn lấp lánh.. như đi dạ tiệc. Tôi chào từng người và hỏi:
-Anh Tư tới lâu chưa, sao chưa thấy anh chị Thuần với vợ chồng Quách Linh Hoạt?
Anh Tư Trần Hưng Đạo nhờ ăn mặc kỹ lưỡng nên coi trẻ hơn lúc trước, nói cười tươi rói:
-Mấy ông bà đó mua nhà tuốt trên khu E, từ trên sườn núi mà đi tới đây chắc cũng phải cả giờ…
Tôi thoáng thấy cái mề đay vàng đeo lủng lẳng bên trong áo. Ông bà nầy hay thiệt, hồi ở đảo Dừa, tụi Mã Lai xét rất kỹ đồ đạc, hành lý, vậy mà vẫn còn dấu được y nguyên, không mất mát món nào. Dân buôn bán thường thì khá giả hơn giới công chức quân nhơn. Anh Thuần và Quách Linh Hoạt ít tiền hơn, đành phải leo tuốt lên núi che lều. Muốn đi tới khu E phải từ hội trường nầy, vượt qua không biết bao nhiêu lều trại, đồi dốc dựng ngược mới tới được. Mỗi lần lên trên đó thăm bạn là tay chưn tôi rã rời, thở hết muốn nổi. Miệt đó khoảng lưng chừng núi, phía sau là rừng cây, bất tiện đủ mọi điều, duy có việc kiếm củi là tiện nhứt, không phải đi xa.
Chị Tư đứng kế bên phân trần:
-Hai vợ chồng tôi con cái đông quá, đứa nào đứa nấy còn nhỏ xíu thành ra phải rán sức mua cái lều ở khu A nầy, chớ thiệt ra cũng không dư dả gì nhiều…
Anh Tư chen vô:
-Phải chi hồi bữa mới tới, ghe mình được mở hồ sơ Cao Ủy ngay, thì có thể vô gặp phái đoàn Canada tới kỳ rồi Thiệt xui hết sức, nó nhận trên năm trăm người mà không cần điều kiện gì hết…
Tôi góp chuyện:
-Ừ, ừ, ở đây ai cũng muốn đi Mỹ, chớ không thèm Canada, một phần Canada yếu quá, hai là lạnh quá. Người ta chê… thì mình xin chắc được!
Tiến và Chiêu sau một hồi đi vòng vo trở về. Tiến hỏi:
-Bữa nay mình khai lý lịch cho Cao Ủy Tỵ Nạn mà trong tay không có một giấy tờ nào lận lưng, rồi làm sao chứng minh, ai tin?
Anh Tư khoát tay:
-Đừng lo, bồ ơi, chuyện gì tôi không biết, chớ chuyện đó thì rành sáu câu. Nhà tôi ở sát vách hội trường, nghe thiên hạ kể lại đầy lỗ tai. Ai muốn khai gì cứ khai, tha hồ. Trung sĩ lên thành Trung úy, y tá lên bác sĩ, thợ máy khai kỹ sư, học lớp mười khai tốt nghiệp Đại học, có vợ năm con cứ khai còn độc thân… rồi nhiều khi đổi luôn cả tên tuổi! Cứ nói giấy tờ rớt hết xuống biển là xong, dễ ợt! Tụi phái đoàn phỏng vấn cũng không thèm kiểm chứng, chỉ trừ có Mỹ là hơi rắc rối với cựu quân nhân, công chức vì hồ sơ lý lịch còn lưu trữ đầy đủ, còn các nước khác thì đâu cần biết tới làm chi cho mất công.
Tiến suy nghĩ một hồi rồi lẩm bẩm:
-Đâu có được, nếu mà khai bậy bạ lung tung như vậy thì giấy tờ bằng cấp kể như bỏ hết!
Anh Tư cười ha hả:
-Tại bồ có bằng cấp cao thì sợ là phải, nếu khai trật là kể như phải học lại từ đầu, còn như tụi tôi trụi lũi, dầu có khai gì đi nữa thì cũng đâu có làm gì được…
Chiêu nãy giờ đứng im nghe đối đáp, bây giờ mới thủng thẳng nói:
-Cũng được chớ anh Tư, trường hợp của anh thì không cần khai học tới kỹ sư, bác sĩ gì, chỉ cần bớt chút đỉnh…
Anh Tư nôn nóng:
-Bớt cái gì chút đỉnh?
Chiêu ngó chị Tư rồi cười:
-Thì anh bớt lại chừng mười tuổi, còn tình trạng gia đình thì đề là độc thân…
Chị Tư Trần Hưng Đạo háy chồng một cái dài hàng cây số :
-Xí, chú Chiêu tưởng anh Tư ngon lắm hả. Phải chi có cô nào chịu, rước phức ổng đi cho tui nhờ, già cúp bình thiếc rồi, dầu có khai thấp khai cao gì, cũng đâu có gạt ai được…
Tôi muốn chọc chị Tư cho vui, bèn nói:
-Cũng chưa biết đâu à nghen, cái gì cũng phải làm thử mới biết thiệt hư. Tôi nhớ hồi còn ở đảo Dừa có cô gì đẹp đẹp đó, cứ theo nói chuyện với anh Tư hoài…, làm tôi ghen hết sức!
Chị Tư nắm lấy tay Duyên:
-Nè, cô Duyên, nghe mấy ổng nói chuyện đã thèm chưa. Ông nào cũng như ông nấy, quá trời!
Duyên cười:
-Hơi đâu mà chị nghe, người nào mà ưa nói được người nầy yêu, được người kia thương, là người đó không có ai yêu thương hết. Họ phải nói như vậy để che dấu khuyết điểm… Còn ông nào lầm lầm, lỳ lỳ, không nói gì hết thì mình phải sợ, phải đề phòng…
Hàng người di chuyển dần dần tới trước, nhờ nói chuyện tầm phào mà tôi tiến sát tới nơi khai báo hồi nào không hay. Đó là ba cái bàn bằng gỗ tạp được kê sát vô vách trái của phòng hội. Trên bàn có để các mẫu giấy để người tỵ nạn tự ý điền vào. Tôi đến trước thuận tay lấy hai tấm, một cho tôi và một cho Duyên, xong rồi cả hai ngồi xuống điền các chi tiết được hỏi. Tôi liếc nhanh qua những hàng chữ và ngạc nhiên nói với vợ:
-Em coi nè, tờ khai lý lịch của Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc sao mà đơn giản quá vậy?.
Duyên cũng đã đọc qua nói:
-Ờ, ít quá, chỉ có hỏi tên tuổi, ngày và nơi sanh, nghề nghiệp, ngày đến đảo… Rồi kêu chọn theo thứ tự ba nước muốn đi định cư… Thôi vậy cũng gọn, khỏi phải dài dòng lôi thôi như Việt Cộng.
Nghe nàng nói tôi nhớ lại những ngày đầu tháng 5 năm 1975 tôi và Duyên phải đến trình diện ở Tòa Án Bình Dương để làm tờ khai lý lịch với Ủy Ban Quân Quản của Tỉnh. Ở đó tôi gặp lại hầu hết các giáo sư bạn bè, những công chức của các ty sở. Người nào người nấy câm nín, lặng thinh, ngồi đứng rón rén sợ sệt, đầy vẻ nhẫn nhục, chịu đựng của người bại trận. Tôi ngồi trên cái băng cây, cầm xấp giấy được phát, vừa đọc vừa rùng mình. Dễ sợ thiệt. Những câu hỏi dầy đặc bao quanh cuộc đời từ ông cố, ông nội, đời cha rồi tới đời con, đời cháu. Bên nội, bên ngoại,.. hàng xóm, gần xa.. Rồi tới chuyện tốt chuyện xấu, thương ai ghét ai, có cần tố cáo gì với nhân dân, đảng và nhà nước sẵn sàng lắng nghe và giúp đỡ. Mẫu khai lý lịch đơn giản đó, sơ sơ gần mười trang, tuy là những tờ giấy mỏng tanh nhưng nó có sức nặng như đá tảng. Tôi đã viết miên man như người lên đồng, đầu óc nóng bừng bừng. Cũng may tôi chỉ là một thầy giáo ở tỉnh lẻ tầm thường… Tôi không thể tưởng tượng một vị chính khách, một bộ trưởng hay một tướng lãnh mà cuộc đời các vị đó là một chuỗi dài biến cố thì bảng lý lịch phải tới bao nhiêu trang? Một trăm, hai trăm, một ngàn, hai ngàn... hay nhiều hơn nữa? Chưa bao giờ và ở đâu, đời tư con người được khai thác tận tình như dưới chế độ Cộng sản. Nghe bao nhiêu lời truyền tụng, đọc bao nhiêu sách vở, cũng không bằng thực sự sống trong lòng chế độ một ngày. Chỉ một ngày thôi cũng đủ biết đá biết vàng, nói chi đến năm mười năm hay dài lâu hơn nữa…
Duyên day qua hỏi tôi:
-Mình chọn Canada ưu tiên một, Úc ưu tiên hai phải không anh?
-Em suy nghĩ kỹ lại coi, nếu muốn chọn Hoa Kỳ, vợ chồng mình cũng có đủ điều kiện .. nhưng phải chờ lâu lắm đó. Có người chờ năm, bảy tháng, một năm mà cũng chưa nhúc nhích! Úc thì cũng đi lẹ nhưng gần khu vực Đông Nam Á quá, biết đâu một ngày nào đó tụi nó len lỏi tới, mình phải chèo ghe đi trốn một lần nữa… Theo anh nên chọn Canada cho gọn, dễ đi, chớ tình trạng ở đảo như vầy, kéo dài tháng nầy qua tháng kia, rủi ro bịnh họan thì làm sao!
Út Trung xách tờ khai lại gần tôi nói:
-Em chọn Huê Kỳ ưu tiên một, Canada kế. Bên Huê Kỳ, khoa học kỹ thuật cao, mình có thể theo học được, nó lại giàu mạnh nhứt thế giới. Anh chị đổi lại đi, qua Mỹ với em cho vui.
Sơn chọn Mỹ và Tây Đức. Còn Dân gì đó thì cầm giấy, đứng ngó hết người nầy tới người kia, cuối cùng nó chạy lại tôi, miệng nói tía lia:
-Anh chị tính lựa đi định cư xứ nào? Sao người ta tốt quá, cho mình đi mấy xứ văn minh như bên Tây bên Mỹ gi đó, em thấy chỗ nào cũng được hết. Để em hỏi thử coi, em chọn ba nước mà nuớc nào cũng ưu tiên một hết, có được gì đó không?
Tôi trả lời dùm cho nó:
-Đâu có được Dân, nếu em chọn ba nước cùng ưu tiên một, làm sao người ta cứu xét. Thôi, hay là em chọn Canada để đi với anh chị đi.
Thằng nhỏ không đắn đo gì hết, chìa tờ giấy ra, miệng cười cười:
-Thôi, sẵn viết gì đó, nhờ anh ghi vô dùm. Anh muốn ghi gì đó thì cứ ghi, em đâu có biết nước nào ở đâu, miễn làm sao đi cho lẹ lẹ gì đó là được.
Tôi vừa ghi cho nó, vừa nói:
-Canada thì lạnh lắm đó nghen, chỗ nào cũng đóng nước đá hết. Mai mốt bị lạnh teo ruột teo gan thì đừng có bắt đền nghe không!
Dân gì đó cười hì hì:
-Anh nói vậy chớ, đâu có chỗ nào lạnh dữ quá gì đó. Chắc bên đó cũng y như trên Đà Lạt, anh chị chịu được thì em cũng chịu được gì đó, em hổng lo…
Tôi cầm tờ giấy đã khai đến nộp cho một nhân viên ngối sau bàn giấy. Anh kiểm sóat lại coi có điền đầy đủ các chi tiết và chữ ký đúng thủ tục hay không. Công việc giải quyết nhanh chóng. Chỉ trong vòng hai tiếng đồng hồ, gần trên năm trăm người của đảo Kapas đưa qua, đã làm thủ tục ghi tên tỵ nạn với Cao Ủy Liên Hiệp Quốc ở đảo Bidong một cách thật gọn gàng. Quang cảnh đã thưa bớt. Khai xong mọi người tản mát ra về.
Tư Trần Hưng Đạo rủ tôi ghé nhà anh chơi. Thuận đường về tôi rủ Duyên ghé vào cho biết thế nào là một căn lều sang trọng ở khu A. Căn lều khá lớn, y như một cái nhà tranh nhỏ ở thôn quê, nhìn qua bên kia đường là phòng thông tin của đảo. Bước vào trong, không khí mát hẳn, chắc là nhờ trần cao và rộng, bên trên lại có những tàn dừa che rợp, ngăn bớt được sức nóng mặt trời. Tôi vọt miệng khen:
-Trời, biệt thự của hai ông bà sang quá. Ở đây mà làm sao có được bộ ván phẳng phiu như vậy... rồi phía trước còn rộng rinh, phía sau làm bếp. Đã thiệt!
Anh Tư đã cởi áo ngoài, chỉ cho tôi cái giếng nước được đào sát bên vách:
-Bồ coi nè, có cái giếng trong nhà, cũng tiện lắm. Khỏi phải đi xa, giành giựt chờ đợi.
Tôi thấy một cái giếng hình vuông vức chừng một thước, nước đen tối hù bên dưới không biết sạch hay dơ. Những nhà rộng, người ta thường đào giếng ngay bên trong để có nước mà dùng. Đằng nhà anh Liêu Thạnh cũng có, khi nào giếng của đảo cạn nước, tôi thường xách thùng lại ảnh mà xin. Cả đảo chừng cũng có trên vài trăm cái, kiểu nầy. Mùa khô cạn nước, người ta đào xới tứ tung. Chị Tư vừa rót nước mời khách, vừa nói:
-Nhà rộng vậy chớ phải chia ba đó. Phần của tụi tôi chỉ có bộ ván nầy. Phía trước và phía sau của chủ khác. Vậy mà phải mua tới năm trăm đồng.
Lều ở Bidong lúc đó có giá lắm. Người đông, đảo lại hẹp nên giá cả tăng vọt. Trung bình một căn nhà nhỏ ngang ba thước, dài bốn thước, bán độ ba trăm đồng Mã Lai. Vàng một chỉ giá sáu mươi đồng. Như vậy tương đương với năm chỉ vàng. Anh Tư nói:
-Thấy thì rộng vậy, chớ đám hát của tụi tôi đông quá, có lẽ phải kiếm mua thêm một cái nữa để chia bớt ra, đêm nào ngủ cũng có đứa bị đạp lọt xuống đất. Ở đây được cái tiện là ở sát hội trường, trung tâm của đảo. Tin tức định cư gì tôi cũng biết hết. Suốt ngày nghe tin phái đoàn đến, tin phái đoàn đi, tin ghe vượt biên, tin các người thân thuộc đến đảo, tin hầm bà lằng… hai ông bà cần biết chuyện gì cứ hỏi, tôi nói cho nghe.
Rồi anh tiếp:
-Ngon lành nhứt ghe mình là Hủ Tiếu. Thằng chả đem được vàng nhiều quá, của tụi mình đóng chớ của ai, mua cái nhà lớn mấy ngàn đồng, bên kia đường đối diện với trạm Cảnh Sát. Nhà chia làm nhiều phòng, nhiều giuờng vì bộ hạ của chả khá đông. Gia đình Hủ Tiếu đi tòan bộ từ bà mẹ già tới mấy đứa cháu nội, cháu ngoại còn ẳm trên tay. Người Tàu họ làm ăn giàu hơn người mình. Vừa tới được một hai ngày gì đó, mua nhà xong bèn lên đồi trực thăng ở khu F móc đất sét đắp thành lò bánh mì. Bột mì ở đây rẻ và bột nổi rất tốt. Ông ta bán một đồng bốn ổ bánh nhỏ. Bánh nóng xốp, thơm ngon và rất dòn. Cây củi thì chặt ở trên núi, thiếu gì…
Tôi cười và nói:
-Vậy Hủ Tiếu lúc nào cũng là người cung cấp dịch vụ, còn tụi mình là người tiêu thụ… Nói rõ hơn theo nghĩa đen, Hủ Tiếu lúc nào cũng có tiền, còn tụi mình lúc nào cũng hết tiền.
Duyên níu lấy tay tôi:
-Thôi, thôi, ông ơi, trưa nóng quá rồi, mình về để anh chị Tư còn lo cơm nước, chuyện Hủ Tíu để thủng thẳng nói tiếp, mình còn ở Bidong nầy lâu lắm mà…
-Ừa, về thì về nhưng để rủ anh Tư chiều nay đi tắm cho vui…
Anh Tư vừa uống nước vừa nói:
-Khi nào bồ đi ngang hú tôi một tiếng là xong ngay, rủ thêm ‘dà’ Sơn với Dân ‘gi đó’ cho đủ bộ..
Giờ nầy cả đảo như bị nung chín, vừa bước ra khỏi cửa hẹp hơi nóng hâm hấp táp vào mặt, tôi vội mở vài nút áo cho thoáng. Con đường về nhà sao mà quá dài, đi hoài cũng chưa tới, chiếc dép lại sứt quai, khiến bước chưn khập khiểng. Những chiếc lều nép sát vào nhau núp nắng, đưa cái nóc xanh ra hứng hết cơn nóng buổi trưa. Mồ hôi đã tươm ra đầy mặt đầy lưng, tôi cởi luôn cái áo vắt vai, mong chờ một cơn gió mát từ khơi xa xăm thổi tới… Bidong sao mà nóng bức quá, những đọt dừa vàng ẻo, những da người đen thui.
VÕ KỲ ĐIỀN
Pulau Bidong Miền Đất Lạ - Chương 16
Chương 16:
HẢI ĐẢO BUỒN LÂU BI ĐÁT (Chương 16)
Sương khuya lành lạnh, sóng vỗ rì rào, mọi người đã chọn chỗ nằm, tha hồ mà ngắm sao đêm nay. Tôi và Chiêu còn ngồi nhìn đọt dừa nói chuyện. Các gian hàng chợ trời đã dẹp sạch trơn. Trên con đường trước mặt, một người nhỏ con lùn thấp đen đúa, mặc một cái áo thun trắng dài sọc gần tới đầu gối đang đi ngang. Tôi khều Chiêu, thì thầm trong bóng đêm:
-Nhìn nè, có thằng nhỏ không bận quần đi kia kìa...
Chiêu nhìn rồi trả lời:
-Sao anh biết nó không bận quần?
-Có thấy cái quần chỗ nào đâu. Cái áo phủ tới đầu gối. Có thể có mà cũng có thể không. Theo anh đoán thì không có…
Chiêu cười hà hà, hỏi lại :
-Tại sao anh đoán như vậy?
-Dễ hiểu quá mà, ở Bidong nầy trời nực… để trống trải vậy cho mát.
Hai anh em cười hăng hắc, bỗng nhiên Chiêu chợt nhỏm dậy, chạy theo người vừa đi ngang, miệng hỏi:
-Xin lỗi, anh phải anh Năm, Trung Sĩ Biệt Động Quân không?
-Anh Chiêu, anh qua đây hồi nào. Tôi chờ anh mấy tháng nay…
Hai người găp lại nhau, có nhiều chuyện để nói. Tôi rán nhìn kỹ để kiếm coi anh bạn mới, ngoài cái áo thun dài ra, còn có mặc gì nữa không? Tiếc quá, trời tối mò mò, nên không thấy được gì hết trơn! Lần lần qua câu chuyện, tôi được biết anh Năm trung sĩ là người quen với anh rể Chiêu. Lúc trước anh rể Chiêu qua Bidong dựng cái lều cây kế khu chợ trời nầy để ở. Sau đó anh được đi Mỹ có nhờ anh Năm ở lại giữ lều dùm, dặn kỹ là kiếm Chiêu để giao lại. Như vậy cũng đỡ. Anh Năm thấy có nhiều trẻ em còn nhỏ, bèn nói:
-Đằng lều còn chỗ trống, anh Chiêu sắp xếp cho mấy chị có con nhỏ dời qua bên đó ngủ tạm đêm nay đi… chớ ở ngoài trời sương gió như vầy bất tiện.
Tôi sửa soạn khăn và nước uống cho mẹ con Bi đi với chị Điệp cùng Trung, Dung, miệng nói:
-Tụi tôi cám ơn anh Năm nhiều lắm. May mà gặp anh đêm nay, nếu không thì phải ngủ hết ngoài trời.
Anh Năm cảm động:
-Có gì đâu anh, gặp lại Chiêu em mừng lắm. Để em giao cái lều lại cho… Em cũng gần được đi Úc rồi, rủi khi đi mà không gặp được ảnh, em cũng không biết phải làm sao?
Rồi anh cười, nói tiếp:
-Nói thì nói vậy chớ, em cũng đã tính rồi, đâu đó xong xuôi. Cái lều tốt quá, hổng lẽ bỏ uổng, lúc đó chắc phải bán rẻ, kiếm một mớ xài đỡ… rồi khi nào có gởi qua Mỹ trả lại.
Tối đó Duyên ẳm Bi, chị Điệp dẫn Trung, Dung, cô Bằng ẳm bé Linh đến lều của anh Năm. Anh chị Năm nhường chỗ cho những người mới tới. Cả hai ngủ ở hai cái võng mắc vào các gốc cây. Lại một lần nữa vào phút chót, tôi được môt ân nhân, không quen không biết ra tay giúp đỡ.
Còn lại ở đây toàn là người lớn. Tôi trải các quần áo, mùng mền bị mưa ướt buổi sáng ở Kapas chưa kịp phơi khô ra trên các ba lô, xách tay để phơi, rồi nằm ngủ đại trên tấm ny lông dơ, giấc ngủ chập chờn vì sợ người ta lấy cắp đồ đạc. Khoảng một hai giờ khuya, có trận mưa nhỏ, cả đám chạy vào lều bên cạnh núp mưa. Những luồng gió mạnh rít lên từng cơn, thổi tạt những giọt mưa bay ngang rào rào, nước thấm ướt đầu, ướt cổ man mát. Ở phía nhà chờ đợi một ngọn đèn điện sáng đỏ quạnh cô đơn. Chúng tôi lom khom nép người vào vách lều kế bên, nhìn mưa, không ai nói tiếng nào. Cả đảo im lìm, hiu quạnh thê lương… Mưa rồi cũng tạnh, tôi ra ngủ tiếp. Giấc ngủ mê man! Suy nghĩ cho cùng, trong cái khổ cũng có cái sướng. Trong đời chưa bao giờ, tôi được dịp nằm ngủ thẳng cẳng giữa chợ, không mùng mền chiếu gối, một cách bụi đời như tối nay!
Đó là đêm đầu tiên tôi bước chưn tới đảo Bidong, hải đảo nóng bức của vùng xích đạo, hải đảo mà hàng chục ngàn thuyền nhơn Việt Nam nghe tới tên phải xúc động thẩn thờ. Không biết kể từ bao giờ, mỗi khi nhắc tới nó, người tỵ nạn vừa âu yếm, vừa mỉa mai, gọi bằng một cái tên mới đặt, hải đảo Buồn Lâu Bi Đát. Cái tên sao mà bi quan và hơi cải lương. Thiệt tình mỗi khi nghe tới, đâm rầu thúi ruột!
*
* *
Lều anh Năm áo thun ở tuốt về phía vách đá cuối bãi, khi tới nơi quẹo mặt một đổi rồi quẹo trái. Nó thuộc khu G của đảo. Muốn đi đến đó phải băng ngang qua khu D chợ trời. Trời vừa tang tảng sáng tôi đã dọn dẹp xong đống đồ đạc ngổn ngang, nhường cái bãi cát dơ lại cho mấy bà bạn hàng để quăng rác. Chiêu đi trước dẫn đường loanh quanh trong con hẽm nhỏ vừa đủ lọt một người đi. Tôi theo sát vì sợ lạc. Chung quanh lều cất san sát, cái cao cái thấp chen nhau, không còn một khoảng trống. Quang cảnh hổn độn rối nùi. Thỉnh thoảng tôi phải dừng lại, nhìn trái nhìn phải để định hướng. Đây rồi mẹ con Bi cùng mấy đứa nhỏ đang ngồi trên sàn. Tôi bồng lấy Bi, thằng bé ôm lấy tôi, mừng rỡ. Duyên hỏi:
-Hồi hôm hình như trời mưa, mấy anh làm sao? Có bị ướt nhiều không?
-Mưa cũng nhỏ, tụi anh chạy qua lều kế bên đụt tạm. Sao, mẹ con ngủ ngon không?
Duyên mặt mày tươi tỉnh:
-Mệt quá nên nằm ngủ một giấc tới sáng. Thôi, lo rửa mặt rửa mày rồi ăn điểm tâm.
Tôi đứng nhìn cái lều. Nó được dựng trên ba cây cột to bằng bắp chưn. Cây cột thứ tư là một gốc cây lớn cỡ vòng ôm, trên đọt còn đầy đủ cành lá xanh um. Nhờ vậy mà lều rất chắc chắn. Căn lều cao cẳng nầy cũng được lót sàn, cao chừng một thước rưỡi, có một cái thang ở ngay trước cửa, dùng để lên xuống. Như vậy cũng tiện, bao nhiêu bụi bậm rác rưởi đều lọt tuốt xuống đất. Mặt sàn cũng bằng cây tròn nhỏ dài cỡ hai thước, ghép sáy lại để nằm ngồi, sinh hoạt. Nhìn những mắt cây sần sùi, nổi u nổi cục, cây thì thẳng, cây thì cong, tôi lo lắng:
-Cái mặt giường lồi lõm như vầy, làm sao mà nằm?
Duyên trả lời:
-Khi nằm phải lựa thế từ từ ngả lưng xuống… chớ nằm lẹ thì bị cấn đau lắm.
Tôi sực nhớ ra ở Bidong, tất cả vật liệu xây cất đều phải tự kiếm trên núi. Đinh búa thì xuất tiền túi ra mua ở chợ trời. Ban quản trại chỉ phát cho đồ ăn với nước uống, làm gì có tới cây ván phẳng phiu để làm giường, làm chiếu. Mà nếu có, thì phải chở bao nhiêu tàu cho đủ? Có tất cả bao nhiêu cái lều ở đảo nầy? và bao nhiêu nữa đang được cất thêm? Diện tích mặt sàn cỡ bằng bộ ván lớn. Đằng trước, đằng sau, bên phải, bên trái, bị các lều lân cận ép kín mít, chỉ hở có trước cửa, một con đường ra vô chỉ khoảng một thước mà thôi. Cũng còn một chỗ trống nữa chớ. Ở vách bên phải còn dư một khoảng đất trống độ một thước ngang ba thước dài. Người anh rể Chiêu làm môt cái nhà tắm và môt cái bếp nấu ăn. Cái nhà tắm nhỏ như cái hộp cạc tông, còn cái bếp làm bằng đât sét, mỗi lần nấu nướng khói um mịt mù. Tất cả chỉ có bao nhiêu đó. Nếu muốn kể thêm thì có thể nói dưới sàn là rãnh nước chảy ngoằn ngoèo, dơ dáy. Cái rãnh chứa hết tất cả nước dơ của các lều khác chảy ngang qua đây rồi chảy về đâu nữa, làm sao tôi biết được!
Hành lý đã sắp xếp gọn ghẽ trên mặt sàn, tôi ăn tô mì tôm buổi sáng. Tô mì ngon hơn tối qua, có lẽ vì đói quá. Nắng đã len vàng trên đọt cây xanh. Nóc lều còn một khoảng trống, phải lợp thêm, nếu không mưa lớn sẽ ướt hết quần áo, đồ đạc. Bây giờ thì sinh hoạt của đảo đã bắt đầu rộn rịp. Trong các túp lều chật hẹp thien hạ tuôn ra đông đúc rộn ràng. Tôi lần theo lối cũ, trở ra khu chợ trời. Người ta ngồi bán dọc theo hai bên lối đi. Trước mặt mỗi người là một thùng giấy cạc tông hoặc môt tấm ny lông làm đệm, trên đó chất đủ loại mặt hàng cần dùng: kem đánh răng, khăn, mùng, bao ny lông đựng đường hoặc bột, đèn bấm, đường, gạo, bột, muối,… Có cả những thứ xa xỉ như bôm, nho, xá lỵ. Nhiều nhứt là những thùng nước ngọt Coca Cola với Seven Up. Có một gian hàng bán đủ loại đinh ốc, kềm búa, cưa, kéo. Tôi đứng nhìn mê mẩn, món nào cũng cần, cũng hấp dẫn dễ sợ. Gần bốn năm năm nay sống dưới chế độ mới, không thấy mấy món hàng bày bán ở chợ trời như những thời gian trước đây, bây giờ thấy lại mừng quá, như gặp cố nhơn. Những cái khăn tắm mịn màng, những hộp bánh, hộp kẹo ngon nổi tiếng, những đồng hồ Nhựt và Thụy Sĩ, những chai dầu thơm… tất cả như chào đón, mời mọc. Mắt nhìn nhưng chưn thì bước đi, trong túi không tiền thì làm sao để có mà mua?
Tôi nhìn về phía trái, thấy đó là phòng Y Tế của khu D. Những người bịnh vào xin thuốc đứng đầy ra tới cửa. Ai có sáng kiến lập phòng nầy ở đây coi bộ không khá, vì chỉ cách xa độ mười thước thôi, một dãy cầu vệ sinh công cộng quay mặt ngó xéo vào. Cầu đuược đào sâu dưới cát trên lót ván, xung quanh được che bằng tole dợn sóng, cao khoảng một mét rưởi, không có nóc. Chỉ có đàn bà con gái mới cần đến, còn đàn ông, con nít thì chịu khó mất công đến đây làm gì, mé biển hoặc hốc núi chỗ nào cũng được, lại sạch sẽ, thoải mái. Chừng tuần sau dãy nhà cầu nầy bị dẹp bỏ, cả đảo hoàn toàn không có một cái cầu nào. Tôi mới đến có một ngày, chưa biết đuợc gì nhiều, vã lại cũng không quen với một vị nào làm việc trong trạinên không nghĩ ra đượclà ở Bidong nên lập cầu vệ sinh hay không nên? Nếu nên lập thì tại sao có rồi phá bỏ, còn nếu không nên thì cả đảo là một bãi phân khổng lồ. Như hiện giờ trên đường đi, trên bãi cát, ở gốc câychỗ nào cũng co những mìn bẫy can quân ta gài lại trong đêm hôm khuya khoắc, sơ ý là dẫm phải. Ở vào trường hợp nầy không cần vào phòng Y Tế mà phải chạy lẹ ra mé biển… để rửua chưn! Cũng do vấn đề vệ sinh, tôi mới chợt hiểu công dụng của cây đèn bấm chớp tắt liên hổi trong đêm hôm của những người đi đường! Ai cũng phải có, không có là không được!
Tôi phải nín thở đi thật lẹ khi ngang qua đây. Trời ơi, cái chỗ tôi nằm ngủ hồi hôm cũng đâu có cách xa gì. Cái đống rác chình ình kế bên. Rồi cái bãi cát dùng làm chỗ tạm trú cũng ở kế bên đó luôn. Vậy mà đêm qua tôi dám cả gan nằm ở đó, ngủ một giấc ngon lành. (Vị nào trong ban tổ chức trại, có sáng kiến chọn khu tạm trú cho người mới tới ở chỗ nầy, thiệt là bất nhơn!)
Nắng đã bắt đầu nóng, mồ hôi rịn ra trên lưng. Những người thợ hớt tóc đã bắt đầu hành nghề bên cạnh những ông thợ bạc đang mài mài, dũa dũa các món nữ trang. Tôi thấy dưới gốc cây bàng lớn là phòng đánh điện tín dành riêng cho người tỵ nạn, vài ba người đang chờ đợi tới phiên mình. Quãng đường tự nhiên hẹp lại. Một căn nhà tuy đã cũ nhưng kiên cố, to lớn và khá đẹp được rào kín đáo. Nhà cất kiểu cao cẳng Mã Lai. Mặt sàn cao chừng một thước rưỡi, cầu thang đi lên nhà được xây bằng gạch tô xi măng.. Ở đảo nầy mà lại có môt căn nhà kiểu lạ không biết của ai, tôi đứng nhìn tò mò, không thấy người bên trong. Ủa, sao lại có người ở dưới sàn, đầu cạo trọc lóc. Anh ta nhìn tôi, vẻ mặy thê lương, nước da xạm đen. Tôi nhìn kỹ hơn. Hai tay anh được tự do nhưng cổ chưn bị xiềng vô gốc cột. Trời, sao kỳ cục vậy? Nét mặt nầy là người Việt hay người Tàu chớ không có vẻ gì là người Mã Lai. Từ trong nhà đi ra hai người cẩnh sát Mã cầm súng săn to nòng. À, thì ra cái nhà nầy là cơ quan cảnh sát Mã Lai trên đảo. Vậy mà tôi đứng đây hồi lâu không biết.
Tôi vội bước đi mà lòng thắc mắc, người bị nhốt dưới sàn kia, tội tình gì mà phải xiềng xích và đầu bị cạo trọc? Một nỗi buồn vô cớ len len trong lòng khiến tôi bước đi vội vã để tránh chỗ nầy. Tôi không muốn nhìn cảnh tượng thương tâm diễn ra trước mắt, cuộc đời vốn đã nhiều khổ sở, càng thấy nhiều, biết nhiều lại càng khổ hơn. Nhưng dầu muốn thấy hay không muốn thấy, cũng không do ý mình. Vừa qua khỏi nhà chờ đợi tạm mà tôi đã vào làm thủ tục hôm qua, mắt tôi chợt thấy một nhóm ba người đàn bà Tàu đang lên nhang đèn sì sụp khấn vái. Trước mặt họ, dưới một gốc cây dừa già cỗi, một cái miếu nhỏ đóng bằng cây ván vụn một cách thô sơ, sơn đỏ bầm trên đó một hàng chữ Tàu ngoằn ngoèo đậm nét. Đám đông rầm rộ xung quanh. Một lư hương cắm đầy nhang đỏ khói lên nghi ngút. Những lời cầu nguyện lẫn trong tiếng động vô tình. Tại sao nơi đây lại có một cái miếu nhỏ? Tôi hỏi một chủ lều bên đường, ông ta đang đứng thong dong -‘cách đây mấy tháng một ông già ngồi ở chỗ đó bị dừa rớt trúng bể đầu, chết liền tại chỗ. Ổng là người đầu tiên chết ở Bidong nầy, được đem chôn trên đồi tôn giáo đó!’
Nói xong ông ta ngó về phía giếng đông người, thản nhiên không một xúc động, trong tay còn cầm cọng nhang xỉa răng… Tôi nghiệm ra một điều ở Bidong nầy số lượng người đông như kiến thành ra đời sống của mỗi cá nhơn bị chìm ngập trong đám đông. Mỗi cá nhơn nhỏ nhoi quá, không có nghĩa gì hết. Ai bị gông xiềng thì cứ thản nhiên ở tù, ai bị dừa rớt bể đầu thì cứ thản nhiên chết, còn ai chưa bị gì hết thì cứ thản nhiên mà sống. Dòng đời cứ thản nhiên trôi. Chỗ nầy có người khóc, chỗ khác người ta cười. Đâu còn ai có thì giờ để quan tâm đến người khác chi cho nhọc sức. Tôi nhìn cái miếu đỏ mà lòng xốn xang. Ông già nầy là người tỉnh nào? Đã tốn bao nhiêu tâm huyết, tiền của vượt thoát được bao nguy hiểm bủa vây tứ phía, từ Viêt Nam qua được tới đây? Ông còn để lại vợ, con? Ông chết đi như vầy còn ai thương nhớ? Bất chợt tôi nhìn một lượt toàn cảnh. Cả trại nằm trọn trong rừng dừa. Còn hàng ngàn cây chưa đốn, những túp lều chen nhau núp dưới bóng mát của nó. Rồi sẽ có bao nhiêu trái dừa sẽ rớt, sẽ có bao nhiêu người nữa bị lên đồi tôn giáo nằm cạnh ông già bất hạnh kia? Chỉ có trời biết thôi, mà trời thì ở cao xa thăm thẳm không thèm nói trước!
Tôi đi ra tới cầu tàu mà trong đầu cứ còn lởn vởn hình ảnh ông già mệt mỏi xơ xác sau bao ngày vượt biển đến đây, ghe phải vất vả gian nan mới cặp được vô cái cầu tàu nầy. Ông đuợc lên bờ và ghé vào ngồi dựa gốc dừa để nghỉ mệt…Phải chi ông bị chuyện rắc rối tới trễ một vài phút, phải chi trái dừa rớt sớm hơn vài phút, phải chi nó rớt trật qua một bên và hàng ngàn cái phải chi khác… nối tiếp nhau cho tới cái phải chi cuối cùng thì tôi vỡ lẽ. Đó là, phải chi đừng có Viêt Cộng vô xâm chiếm miền Nam thì ông già đâu có vượt biên làm gì, mà ông không vượt biên thì làm sao dừa Bidong rớt trúng đầu ông được. Và từ đó tôi suy ra hàng trăm, hàng ngàn nỗi khổ đau cực nhục của người thuyền nhơn, tỵ nạn Việt Nam phải gánh chịu là do cái chủ nghĩa Cộng Sản thiếu trái tim người gây ra. Mà suy nghĩ cho cùng, đâu phải chỉ có mấy trăm ngàn thuyền nhơn chịu khổ đau, cả xứ Việt Nam sáu chục triệu người cũng đồng chung một thảm cảnh giống nhau. Phải chi…phải chi đừng có chủ nghĩa Cộng sản thì dân tộc sẽ hạnh phúc biết bao nhiêu!
Tôi lần đến cầu tàu. Hằng trăm người vẩn vơ đứng ở đầu cầu, đa số đều ngóng nhìn ra khơi. Không biết họ tìm gì ngoài đó. Những câu chuyện về chuyến đi, những may mắn cùng những hãi hùng đựợc nhắc đi nhắc lại. Ai ai đến đây cũng đều bị một dấu ấn khắc sâu trong lòng cho đến chết cũng không quên. Chuyến đi của cả một đời. Chỗ nầy thuộc khu A, người ta ra đây để hóng mát, để gặp gỡ hàn huyên. Nước biển đầy rác và phân người. Vậy mà chiều hôm qua, tôi đã thấy hàng ngàn người lặn hụp dưới đó. Mình mẫy bụi bặm dơ dáy mới đi tắm, mà tắm ở đây xong thì dơ hơn! Cũng ngộ quá sức!
Cái cầu cây dài cả trăm thước nầy được gọi là cầu supply, tôi nghe mọi người đều gọi như vậy. Cũng đúng thiệt! Từ sớm mơi cho tới nửa đêm, người ta đã chuyên chở vô đảo
không biết bao nhiêu tấn thực phẩm và hàng hóa. Các thanh niên tự nguyện thuộc khối tiếp tế có đến mấy trăm người, thay phiên nhau công tác liên tục. Họ di chuyển trên cầu, ở xa trông như đàn kiến tha mồi vào tổ. Kho chứa là một dãy nhà tôle nằm dài theo bãi cát bên phải đầu cầu. Xa một chút, xác một chiếc tàu sắt nằm nghiêng trên bãi chơ vơ như một bộ xương rỉ sét… (danh từ cầu supply chỉ phổ biến vào năm 1979, đến 1980 trở về sau được điều chỉnh để gọi cho đúng là cầu jetty).
Trời đã nóng gắt, oi bức dễ sợ. Tôi cởi áo cầm tay. Mọi người đều ở trần, tôi cũng thử ở trần đi giửa đám đông coi thử ra sao. Cũng thoải mái, đâu có gì ngại ngùng. Con đường chánh từ cầu supply đi thẳng vô trung tâm hành chánh của trại, bề ngang độ chừng hai thước. Nó là đại lộ Lê Lợi của Bidong, người đi như nêm trên mặt đất nện vàng ẻo. Một vũng nước đen ngòm nằm bên đường đầy rác rưởi rong rêu chảy ngang qua lộ bằng một đương mương nhỏ. Người ta phải bắt qua vài tấm ván mỏng gập ghình. Rồi sau đó là người và người, tôi bị chìm mất trong đám đông di chuyển hổn độn. Một rừng người xô đẩy chen lấn nhau, phức tạp, rối nùi. Có một giếng nước ngọt ở đầu đường, đông ghẹt người đến lấy nước. Ở đây không có việc sắp hàng chờ đợi. Mạnh ai nấy quăng thùng xuống giếng rồi sau đó kéo lên, được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Tiếng thùng thiếc va chạm nhau gây nên một âm thanh loảng xoảng vang dội. Nhìn cảnh lấy nước giành giựt nhau từng lon, tôi ngao ngán. Trơi, phải tả xung hữu đột để kéo lên một lon nước nhỏ, thiệt là vất vả quá. Rồi phải bao lâu mới được một thùng?
Tôi đi hướng về trung tâm của khu A. Một cái ổ ong lớn hoạt động nhộn nhịp rộn ràng ở các dãy nhà ngang, dọc. Khu hành chánh của trại ở đầu đường trên một bãi đất nện được đắp cao. Hai dãy nhà cây lợp tôle dợn sóng, vài cái lều cây và lều vải nhà binh được dựng thêm kế bên. Tất cả đều được một hàng rào kẻm gai vây quanh, những chỗ thiếu kẽm, người ta lấy cây ván thế vào. Những người có thiện chí và khả năng ự nguyện góp công góp sức mình đang lăng xăng làm việc. Có những người đàn ông, đàn bà và đa số là thanh niên trẻ tuổi. Họ đến từ một phương trời xa xăm, không quen biết nhau, vì cùng một cảnh ngộ, đem sức lực và tâm trí đóng góp vào việc chung của trại. Quyền lợi thì hoàn toàn không có gì nhưng trách nhiệm và bổn phận thì khá nhièu. Tôi gặp ngay ông trưởng trại, một người bạn cũ, có một thời anh làm hiệu trưởng trường Trung Học Thoại Ngọc Hầu ở Long Xuyên. Mười năm rồi mới gặp lại nhau, anh cũng không thay đổi chút nào, người nhỏ con rắn chắc, đôi mắt xanh như mắt mèo vì có dòng máu lai, dân gốc ban Pháp Văn, Đại Học Sư Phạm Đà Lạt. Anh gặp tôi mừng rỡ hỏi thăm tin tức quê nhà và các bạn cùng trong nghề dạy học ở Bình Dương. Tôi cũng mừng lắm vì gặp lại bạn cũ ở mơi tha hương, nói:
-Kiệt nè, đừng có lo lần lần rồi tụi mình sẽ thấy các bạn đó ghé vô Bidong nầy hết cho coi. Ở bên nhà, ai nấy cũng rán tìm đường để đi..
Rồi tôi hỏi:
-Bạn có cách nào giúp tôi tìm một người thân trong gia đình đã vượt biên gần hai tháng nay mà không biết tin tức. Tôi cũng có nhờ nhắn tin tối hôm qua…
Kiệt sốt sắng nói:
-Sợ không có ghé vô đảo nầy. Nếu có thì chắc chắn sẽ tìm ra.
Kiệt dẫn tôi vào văn phòng hành chánh, gặp anh trưởng phòng tên Phong, lúc trước cũng là giáo sư dạy ở Pẻtrus Ký. Phong đưa cho tôi sáu quyển sổ lớn dầy cộm, ghi danh sách người tỵ nạn theo thứ tự thời gian đến đảo. Xung quanh những ban khác làm việc rộn ràng, họ ngồi trên các băng bằng cây, đánh máy rào rào. Mặt bàn cũng bằng cây vá víu sơ sài, những tập vở học trò, những cây viết cùng giấy vụn bừa bãi. Bên vách là một cái tủ cây không có cửa dùng để sắp xếp hồ sơ, có một màn vải trắng úa vàng che phủ bên ngoài… Tôi kiếm ngày tháng rồi lật từng trang. Lật hoài, lật hoài… mãi đến giữa trưa cũng không thấy. Tôi cám ơn Kiệt và Phong, từ giả hội trường để trở về, trong bụng thắc mắc, lo âu…
Dựa lưng vào gốc dừa nghỉ mệt, tôi nhìn qua bên trái, một dãy nhà tôle dợn sóng, dùng làm trung tâm y tế của trại. Có một dấu Hồng Thập Tự đỏ sơn ở trước cửa ra vô. Vào giờ nầy tuy người đã thưa bớt nhưng vẫn còn đông lắm. Bất chợt, tôi nhìn thấy một người quen bên kia đường, đang đi lại. Rõ ràng là nhạc sĩ Lê Thương, thầy dạy Sử Địa của tôi ngày trước, không ngờ gặp lại ở cái đảo xa xôi nầy. Thầy Lê Thương cũng y như ngày xưa mập mập, mặt tròn, mắt sáng, miệng cười tươi, phía trong có cái răng vàng duyên dáng. Tôi mừng quá, chạy qua chào hỏi:
-Chào thầy, thầy qua đây từ bao giờ. Thầy còn nhớ em không?
Tôi mừng hết sức, không kìm được lòng nôn nao, hỏi ào ào không kịp thở. Người thầy dạy học mà tôi hằng kính mến và ngưỡng mộ. Những ngày tôi mới lớn, mới vào bậc trung học, thầy Lê Thương với mái tóc xanh mướt óng ả, dáng dấp đẹp đẽ đã gieo vào tâm hồn ngây thơ của tôi lúc đó, niềm say mê, kính phục. Bây giờ thầy cũng đã vượt biên ở chung một đảo nầy, không vui mừng sao được. Tôi đã đứng trước mặt mà thầy vẫn còn ngơ ngác, đứng im. Vậy là thầy đã quên cậu học trò cũ ngày xưa…
Tôi nhắc lại:
-Ngày xưa, em có học với thầy những năm 1953, 1954 ở trường Nguyễn Trãi, Thủ Dầu Một, thầy chắc còn nhớ, những năm première année, deuxième année…
Thầy Lê Thương của tôi, sau một hồi ngỡ ngàng, lắp bắp:
-Ngộ… ngộ, không piết gì hết á, nị nói cái gì vậy?
Trời, sao kỳ cục vậy, tôi nhìn lộn người rồi sao, quê ơi là quê! Thầy Lê Thương nầy không phải thiệt. Ông ta người Tàu, nói tiếng Việt không rành. Lần nầy thì tôi lắp bắp, nói không ra tiếng:
-Ủa… ủa, xin lỗi, xin lỗi… tôi lộn rồi…
Ông Tàu Chợ Lớn bỏ đi một nước. Tôi đứng há hốc như trời trồng, nhìn theo cái lưng ông ta cho tới khi không thấy nữa. Sao mà có người giống nhau quá sức, không phân biệt được. Làm sao mà tôi nhận không đúng thầy Lê Thương? Tự nhiên tôi nghĩ ra một điều, lầm bầm cằn nhằn, -‘thiệt tình, già cái đầu rồi mà còn ba chớp ba sáng, sao không chịu suy nghĩ, hấp tấp nhận lầm, đến phải xin lỗi người ta’. Ngu ơi là ngu! Thầy Lê Thương tới bây giờ ít ra cũng đã sáu mươi đến sáu mươi lăm tuổi. Đã trên hai mươi lăm năm xa cách không gặp lại, thầy phải già ra chớ! Một người sáu mươi mấy với một người bốn mươi tuổi, khác nhau một trời một vực, sao mà lại lầm như vậy cho được. Thì ra cái đầu tôi như cái máy chụp hình. Hình nào nó đã ghi rõ một thời, thì cứ y như vậy mà nhớ hoài, không thay đổi. Không bao giờ thay đổi! Tôi vừa tức cười, vừa quê quê, ngó quanh một lượt coi có ai để ý không, xong rồi đi một hơi về lều, chắc mẹ con Duyên đang chờ cơm.
Võ Kỳ Điền
HẢI ĐẢO BUỒN LÂU BI ĐÁT (Chương 16)
Sương khuya lành lạnh, sóng vỗ rì rào, mọi người đã chọn chỗ nằm, tha hồ mà ngắm sao đêm nay. Tôi và Chiêu còn ngồi nhìn đọt dừa nói chuyện. Các gian hàng chợ trời đã dẹp sạch trơn. Trên con đường trước mặt, một người nhỏ con lùn thấp đen đúa, mặc một cái áo thun trắng dài sọc gần tới đầu gối đang đi ngang. Tôi khều Chiêu, thì thầm trong bóng đêm:
-Nhìn nè, có thằng nhỏ không bận quần đi kia kìa...
Chiêu nhìn rồi trả lời:
-Sao anh biết nó không bận quần?
-Có thấy cái quần chỗ nào đâu. Cái áo phủ tới đầu gối. Có thể có mà cũng có thể không. Theo anh đoán thì không có…
Chiêu cười hà hà, hỏi lại :
-Tại sao anh đoán như vậy?
-Dễ hiểu quá mà, ở Bidong nầy trời nực… để trống trải vậy cho mát.
Hai anh em cười hăng hắc, bỗng nhiên Chiêu chợt nhỏm dậy, chạy theo người vừa đi ngang, miệng hỏi:
-Xin lỗi, anh phải anh Năm, Trung Sĩ Biệt Động Quân không?
-Anh Chiêu, anh qua đây hồi nào. Tôi chờ anh mấy tháng nay…
Hai người găp lại nhau, có nhiều chuyện để nói. Tôi rán nhìn kỹ để kiếm coi anh bạn mới, ngoài cái áo thun dài ra, còn có mặc gì nữa không? Tiếc quá, trời tối mò mò, nên không thấy được gì hết trơn! Lần lần qua câu chuyện, tôi được biết anh Năm trung sĩ là người quen với anh rể Chiêu. Lúc trước anh rể Chiêu qua Bidong dựng cái lều cây kế khu chợ trời nầy để ở. Sau đó anh được đi Mỹ có nhờ anh Năm ở lại giữ lều dùm, dặn kỹ là kiếm Chiêu để giao lại. Như vậy cũng đỡ. Anh Năm thấy có nhiều trẻ em còn nhỏ, bèn nói:
-Đằng lều còn chỗ trống, anh Chiêu sắp xếp cho mấy chị có con nhỏ dời qua bên đó ngủ tạm đêm nay đi… chớ ở ngoài trời sương gió như vầy bất tiện.
Tôi sửa soạn khăn và nước uống cho mẹ con Bi đi với chị Điệp cùng Trung, Dung, miệng nói:
-Tụi tôi cám ơn anh Năm nhiều lắm. May mà gặp anh đêm nay, nếu không thì phải ngủ hết ngoài trời.
Anh Năm cảm động:
-Có gì đâu anh, gặp lại Chiêu em mừng lắm. Để em giao cái lều lại cho… Em cũng gần được đi Úc rồi, rủi khi đi mà không gặp được ảnh, em cũng không biết phải làm sao?
Rồi anh cười, nói tiếp:
-Nói thì nói vậy chớ, em cũng đã tính rồi, đâu đó xong xuôi. Cái lều tốt quá, hổng lẽ bỏ uổng, lúc đó chắc phải bán rẻ, kiếm một mớ xài đỡ… rồi khi nào có gởi qua Mỹ trả lại.
Tối đó Duyên ẳm Bi, chị Điệp dẫn Trung, Dung, cô Bằng ẳm bé Linh đến lều của anh Năm. Anh chị Năm nhường chỗ cho những người mới tới. Cả hai ngủ ở hai cái võng mắc vào các gốc cây. Lại một lần nữa vào phút chót, tôi được môt ân nhân, không quen không biết ra tay giúp đỡ.
Còn lại ở đây toàn là người lớn. Tôi trải các quần áo, mùng mền bị mưa ướt buổi sáng ở Kapas chưa kịp phơi khô ra trên các ba lô, xách tay để phơi, rồi nằm ngủ đại trên tấm ny lông dơ, giấc ngủ chập chờn vì sợ người ta lấy cắp đồ đạc. Khoảng một hai giờ khuya, có trận mưa nhỏ, cả đám chạy vào lều bên cạnh núp mưa. Những luồng gió mạnh rít lên từng cơn, thổi tạt những giọt mưa bay ngang rào rào, nước thấm ướt đầu, ướt cổ man mát. Ở phía nhà chờ đợi một ngọn đèn điện sáng đỏ quạnh cô đơn. Chúng tôi lom khom nép người vào vách lều kế bên, nhìn mưa, không ai nói tiếng nào. Cả đảo im lìm, hiu quạnh thê lương… Mưa rồi cũng tạnh, tôi ra ngủ tiếp. Giấc ngủ mê man! Suy nghĩ cho cùng, trong cái khổ cũng có cái sướng. Trong đời chưa bao giờ, tôi được dịp nằm ngủ thẳng cẳng giữa chợ, không mùng mền chiếu gối, một cách bụi đời như tối nay!
Đó là đêm đầu tiên tôi bước chưn tới đảo Bidong, hải đảo nóng bức của vùng xích đạo, hải đảo mà hàng chục ngàn thuyền nhơn Việt Nam nghe tới tên phải xúc động thẩn thờ. Không biết kể từ bao giờ, mỗi khi nhắc tới nó, người tỵ nạn vừa âu yếm, vừa mỉa mai, gọi bằng một cái tên mới đặt, hải đảo Buồn Lâu Bi Đát. Cái tên sao mà bi quan và hơi cải lương. Thiệt tình mỗi khi nghe tới, đâm rầu thúi ruột!
*
* *
Lều anh Năm áo thun ở tuốt về phía vách đá cuối bãi, khi tới nơi quẹo mặt một đổi rồi quẹo trái. Nó thuộc khu G của đảo. Muốn đi đến đó phải băng ngang qua khu D chợ trời. Trời vừa tang tảng sáng tôi đã dọn dẹp xong đống đồ đạc ngổn ngang, nhường cái bãi cát dơ lại cho mấy bà bạn hàng để quăng rác. Chiêu đi trước dẫn đường loanh quanh trong con hẽm nhỏ vừa đủ lọt một người đi. Tôi theo sát vì sợ lạc. Chung quanh lều cất san sát, cái cao cái thấp chen nhau, không còn một khoảng trống. Quang cảnh hổn độn rối nùi. Thỉnh thoảng tôi phải dừng lại, nhìn trái nhìn phải để định hướng. Đây rồi mẹ con Bi cùng mấy đứa nhỏ đang ngồi trên sàn. Tôi bồng lấy Bi, thằng bé ôm lấy tôi, mừng rỡ. Duyên hỏi:
-Hồi hôm hình như trời mưa, mấy anh làm sao? Có bị ướt nhiều không?
-Mưa cũng nhỏ, tụi anh chạy qua lều kế bên đụt tạm. Sao, mẹ con ngủ ngon không?
Duyên mặt mày tươi tỉnh:
-Mệt quá nên nằm ngủ một giấc tới sáng. Thôi, lo rửa mặt rửa mày rồi ăn điểm tâm.
Tôi đứng nhìn cái lều. Nó được dựng trên ba cây cột to bằng bắp chưn. Cây cột thứ tư là một gốc cây lớn cỡ vòng ôm, trên đọt còn đầy đủ cành lá xanh um. Nhờ vậy mà lều rất chắc chắn. Căn lều cao cẳng nầy cũng được lót sàn, cao chừng một thước rưỡi, có một cái thang ở ngay trước cửa, dùng để lên xuống. Như vậy cũng tiện, bao nhiêu bụi bậm rác rưởi đều lọt tuốt xuống đất. Mặt sàn cũng bằng cây tròn nhỏ dài cỡ hai thước, ghép sáy lại để nằm ngồi, sinh hoạt. Nhìn những mắt cây sần sùi, nổi u nổi cục, cây thì thẳng, cây thì cong, tôi lo lắng:
-Cái mặt giường lồi lõm như vầy, làm sao mà nằm?
Duyên trả lời:
-Khi nằm phải lựa thế từ từ ngả lưng xuống… chớ nằm lẹ thì bị cấn đau lắm.
Tôi sực nhớ ra ở Bidong, tất cả vật liệu xây cất đều phải tự kiếm trên núi. Đinh búa thì xuất tiền túi ra mua ở chợ trời. Ban quản trại chỉ phát cho đồ ăn với nước uống, làm gì có tới cây ván phẳng phiu để làm giường, làm chiếu. Mà nếu có, thì phải chở bao nhiêu tàu cho đủ? Có tất cả bao nhiêu cái lều ở đảo nầy? và bao nhiêu nữa đang được cất thêm? Diện tích mặt sàn cỡ bằng bộ ván lớn. Đằng trước, đằng sau, bên phải, bên trái, bị các lều lân cận ép kín mít, chỉ hở có trước cửa, một con đường ra vô chỉ khoảng một thước mà thôi. Cũng còn một chỗ trống nữa chớ. Ở vách bên phải còn dư một khoảng đất trống độ một thước ngang ba thước dài. Người anh rể Chiêu làm môt cái nhà tắm và môt cái bếp nấu ăn. Cái nhà tắm nhỏ như cái hộp cạc tông, còn cái bếp làm bằng đât sét, mỗi lần nấu nướng khói um mịt mù. Tất cả chỉ có bao nhiêu đó. Nếu muốn kể thêm thì có thể nói dưới sàn là rãnh nước chảy ngoằn ngoèo, dơ dáy. Cái rãnh chứa hết tất cả nước dơ của các lều khác chảy ngang qua đây rồi chảy về đâu nữa, làm sao tôi biết được!
Hành lý đã sắp xếp gọn ghẽ trên mặt sàn, tôi ăn tô mì tôm buổi sáng. Tô mì ngon hơn tối qua, có lẽ vì đói quá. Nắng đã len vàng trên đọt cây xanh. Nóc lều còn một khoảng trống, phải lợp thêm, nếu không mưa lớn sẽ ướt hết quần áo, đồ đạc. Bây giờ thì sinh hoạt của đảo đã bắt đầu rộn rịp. Trong các túp lều chật hẹp thien hạ tuôn ra đông đúc rộn ràng. Tôi lần theo lối cũ, trở ra khu chợ trời. Người ta ngồi bán dọc theo hai bên lối đi. Trước mặt mỗi người là một thùng giấy cạc tông hoặc môt tấm ny lông làm đệm, trên đó chất đủ loại mặt hàng cần dùng: kem đánh răng, khăn, mùng, bao ny lông đựng đường hoặc bột, đèn bấm, đường, gạo, bột, muối,… Có cả những thứ xa xỉ như bôm, nho, xá lỵ. Nhiều nhứt là những thùng nước ngọt Coca Cola với Seven Up. Có một gian hàng bán đủ loại đinh ốc, kềm búa, cưa, kéo. Tôi đứng nhìn mê mẩn, món nào cũng cần, cũng hấp dẫn dễ sợ. Gần bốn năm năm nay sống dưới chế độ mới, không thấy mấy món hàng bày bán ở chợ trời như những thời gian trước đây, bây giờ thấy lại mừng quá, như gặp cố nhơn. Những cái khăn tắm mịn màng, những hộp bánh, hộp kẹo ngon nổi tiếng, những đồng hồ Nhựt và Thụy Sĩ, những chai dầu thơm… tất cả như chào đón, mời mọc. Mắt nhìn nhưng chưn thì bước đi, trong túi không tiền thì làm sao để có mà mua?
Tôi nhìn về phía trái, thấy đó là phòng Y Tế của khu D. Những người bịnh vào xin thuốc đứng đầy ra tới cửa. Ai có sáng kiến lập phòng nầy ở đây coi bộ không khá, vì chỉ cách xa độ mười thước thôi, một dãy cầu vệ sinh công cộng quay mặt ngó xéo vào. Cầu đuược đào sâu dưới cát trên lót ván, xung quanh được che bằng tole dợn sóng, cao khoảng một mét rưởi, không có nóc. Chỉ có đàn bà con gái mới cần đến, còn đàn ông, con nít thì chịu khó mất công đến đây làm gì, mé biển hoặc hốc núi chỗ nào cũng được, lại sạch sẽ, thoải mái. Chừng tuần sau dãy nhà cầu nầy bị dẹp bỏ, cả đảo hoàn toàn không có một cái cầu nào. Tôi mới đến có một ngày, chưa biết đuợc gì nhiều, vã lại cũng không quen với một vị nào làm việc trong trạinên không nghĩ ra đượclà ở Bidong nên lập cầu vệ sinh hay không nên? Nếu nên lập thì tại sao có rồi phá bỏ, còn nếu không nên thì cả đảo là một bãi phân khổng lồ. Như hiện giờ trên đường đi, trên bãi cát, ở gốc câychỗ nào cũng co những mìn bẫy can quân ta gài lại trong đêm hôm khuya khoắc, sơ ý là dẫm phải. Ở vào trường hợp nầy không cần vào phòng Y Tế mà phải chạy lẹ ra mé biển… để rửua chưn! Cũng do vấn đề vệ sinh, tôi mới chợt hiểu công dụng của cây đèn bấm chớp tắt liên hổi trong đêm hôm của những người đi đường! Ai cũng phải có, không có là không được!
Tôi phải nín thở đi thật lẹ khi ngang qua đây. Trời ơi, cái chỗ tôi nằm ngủ hồi hôm cũng đâu có cách xa gì. Cái đống rác chình ình kế bên. Rồi cái bãi cát dùng làm chỗ tạm trú cũng ở kế bên đó luôn. Vậy mà đêm qua tôi dám cả gan nằm ở đó, ngủ một giấc ngon lành. (Vị nào trong ban tổ chức trại, có sáng kiến chọn khu tạm trú cho người mới tới ở chỗ nầy, thiệt là bất nhơn!)
Nắng đã bắt đầu nóng, mồ hôi rịn ra trên lưng. Những người thợ hớt tóc đã bắt đầu hành nghề bên cạnh những ông thợ bạc đang mài mài, dũa dũa các món nữ trang. Tôi thấy dưới gốc cây bàng lớn là phòng đánh điện tín dành riêng cho người tỵ nạn, vài ba người đang chờ đợi tới phiên mình. Quãng đường tự nhiên hẹp lại. Một căn nhà tuy đã cũ nhưng kiên cố, to lớn và khá đẹp được rào kín đáo. Nhà cất kiểu cao cẳng Mã Lai. Mặt sàn cao chừng một thước rưỡi, cầu thang đi lên nhà được xây bằng gạch tô xi măng.. Ở đảo nầy mà lại có môt căn nhà kiểu lạ không biết của ai, tôi đứng nhìn tò mò, không thấy người bên trong. Ủa, sao lại có người ở dưới sàn, đầu cạo trọc lóc. Anh ta nhìn tôi, vẻ mặy thê lương, nước da xạm đen. Tôi nhìn kỹ hơn. Hai tay anh được tự do nhưng cổ chưn bị xiềng vô gốc cột. Trời, sao kỳ cục vậy? Nét mặt nầy là người Việt hay người Tàu chớ không có vẻ gì là người Mã Lai. Từ trong nhà đi ra hai người cẩnh sát Mã cầm súng săn to nòng. À, thì ra cái nhà nầy là cơ quan cảnh sát Mã Lai trên đảo. Vậy mà tôi đứng đây hồi lâu không biết.
Tôi vội bước đi mà lòng thắc mắc, người bị nhốt dưới sàn kia, tội tình gì mà phải xiềng xích và đầu bị cạo trọc? Một nỗi buồn vô cớ len len trong lòng khiến tôi bước đi vội vã để tránh chỗ nầy. Tôi không muốn nhìn cảnh tượng thương tâm diễn ra trước mắt, cuộc đời vốn đã nhiều khổ sở, càng thấy nhiều, biết nhiều lại càng khổ hơn. Nhưng dầu muốn thấy hay không muốn thấy, cũng không do ý mình. Vừa qua khỏi nhà chờ đợi tạm mà tôi đã vào làm thủ tục hôm qua, mắt tôi chợt thấy một nhóm ba người đàn bà Tàu đang lên nhang đèn sì sụp khấn vái. Trước mặt họ, dưới một gốc cây dừa già cỗi, một cái miếu nhỏ đóng bằng cây ván vụn một cách thô sơ, sơn đỏ bầm trên đó một hàng chữ Tàu ngoằn ngoèo đậm nét. Đám đông rầm rộ xung quanh. Một lư hương cắm đầy nhang đỏ khói lên nghi ngút. Những lời cầu nguyện lẫn trong tiếng động vô tình. Tại sao nơi đây lại có một cái miếu nhỏ? Tôi hỏi một chủ lều bên đường, ông ta đang đứng thong dong -‘cách đây mấy tháng một ông già ngồi ở chỗ đó bị dừa rớt trúng bể đầu, chết liền tại chỗ. Ổng là người đầu tiên chết ở Bidong nầy, được đem chôn trên đồi tôn giáo đó!’
Nói xong ông ta ngó về phía giếng đông người, thản nhiên không một xúc động, trong tay còn cầm cọng nhang xỉa răng… Tôi nghiệm ra một điều ở Bidong nầy số lượng người đông như kiến thành ra đời sống của mỗi cá nhơn bị chìm ngập trong đám đông. Mỗi cá nhơn nhỏ nhoi quá, không có nghĩa gì hết. Ai bị gông xiềng thì cứ thản nhiên ở tù, ai bị dừa rớt bể đầu thì cứ thản nhiên chết, còn ai chưa bị gì hết thì cứ thản nhiên mà sống. Dòng đời cứ thản nhiên trôi. Chỗ nầy có người khóc, chỗ khác người ta cười. Đâu còn ai có thì giờ để quan tâm đến người khác chi cho nhọc sức. Tôi nhìn cái miếu đỏ mà lòng xốn xang. Ông già nầy là người tỉnh nào? Đã tốn bao nhiêu tâm huyết, tiền của vượt thoát được bao nguy hiểm bủa vây tứ phía, từ Viêt Nam qua được tới đây? Ông còn để lại vợ, con? Ông chết đi như vầy còn ai thương nhớ? Bất chợt tôi nhìn một lượt toàn cảnh. Cả trại nằm trọn trong rừng dừa. Còn hàng ngàn cây chưa đốn, những túp lều chen nhau núp dưới bóng mát của nó. Rồi sẽ có bao nhiêu trái dừa sẽ rớt, sẽ có bao nhiêu người nữa bị lên đồi tôn giáo nằm cạnh ông già bất hạnh kia? Chỉ có trời biết thôi, mà trời thì ở cao xa thăm thẳm không thèm nói trước!
Tôi đi ra tới cầu tàu mà trong đầu cứ còn lởn vởn hình ảnh ông già mệt mỏi xơ xác sau bao ngày vượt biển đến đây, ghe phải vất vả gian nan mới cặp được vô cái cầu tàu nầy. Ông đuợc lên bờ và ghé vào ngồi dựa gốc dừa để nghỉ mệt…Phải chi ông bị chuyện rắc rối tới trễ một vài phút, phải chi trái dừa rớt sớm hơn vài phút, phải chi nó rớt trật qua một bên và hàng ngàn cái phải chi khác… nối tiếp nhau cho tới cái phải chi cuối cùng thì tôi vỡ lẽ. Đó là, phải chi đừng có Viêt Cộng vô xâm chiếm miền Nam thì ông già đâu có vượt biên làm gì, mà ông không vượt biên thì làm sao dừa Bidong rớt trúng đầu ông được. Và từ đó tôi suy ra hàng trăm, hàng ngàn nỗi khổ đau cực nhục của người thuyền nhơn, tỵ nạn Việt Nam phải gánh chịu là do cái chủ nghĩa Cộng Sản thiếu trái tim người gây ra. Mà suy nghĩ cho cùng, đâu phải chỉ có mấy trăm ngàn thuyền nhơn chịu khổ đau, cả xứ Việt Nam sáu chục triệu người cũng đồng chung một thảm cảnh giống nhau. Phải chi…phải chi đừng có chủ nghĩa Cộng sản thì dân tộc sẽ hạnh phúc biết bao nhiêu!
Tôi lần đến cầu tàu. Hằng trăm người vẩn vơ đứng ở đầu cầu, đa số đều ngóng nhìn ra khơi. Không biết họ tìm gì ngoài đó. Những câu chuyện về chuyến đi, những may mắn cùng những hãi hùng đựợc nhắc đi nhắc lại. Ai ai đến đây cũng đều bị một dấu ấn khắc sâu trong lòng cho đến chết cũng không quên. Chuyến đi của cả một đời. Chỗ nầy thuộc khu A, người ta ra đây để hóng mát, để gặp gỡ hàn huyên. Nước biển đầy rác và phân người. Vậy mà chiều hôm qua, tôi đã thấy hàng ngàn người lặn hụp dưới đó. Mình mẫy bụi bặm dơ dáy mới đi tắm, mà tắm ở đây xong thì dơ hơn! Cũng ngộ quá sức!
Cái cầu cây dài cả trăm thước nầy được gọi là cầu supply, tôi nghe mọi người đều gọi như vậy. Cũng đúng thiệt! Từ sớm mơi cho tới nửa đêm, người ta đã chuyên chở vô đảo
không biết bao nhiêu tấn thực phẩm và hàng hóa. Các thanh niên tự nguyện thuộc khối tiếp tế có đến mấy trăm người, thay phiên nhau công tác liên tục. Họ di chuyển trên cầu, ở xa trông như đàn kiến tha mồi vào tổ. Kho chứa là một dãy nhà tôle nằm dài theo bãi cát bên phải đầu cầu. Xa một chút, xác một chiếc tàu sắt nằm nghiêng trên bãi chơ vơ như một bộ xương rỉ sét… (danh từ cầu supply chỉ phổ biến vào năm 1979, đến 1980 trở về sau được điều chỉnh để gọi cho đúng là cầu jetty).
Trời đã nóng gắt, oi bức dễ sợ. Tôi cởi áo cầm tay. Mọi người đều ở trần, tôi cũng thử ở trần đi giửa đám đông coi thử ra sao. Cũng thoải mái, đâu có gì ngại ngùng. Con đường chánh từ cầu supply đi thẳng vô trung tâm hành chánh của trại, bề ngang độ chừng hai thước. Nó là đại lộ Lê Lợi của Bidong, người đi như nêm trên mặt đất nện vàng ẻo. Một vũng nước đen ngòm nằm bên đường đầy rác rưởi rong rêu chảy ngang qua lộ bằng một đương mương nhỏ. Người ta phải bắt qua vài tấm ván mỏng gập ghình. Rồi sau đó là người và người, tôi bị chìm mất trong đám đông di chuyển hổn độn. Một rừng người xô đẩy chen lấn nhau, phức tạp, rối nùi. Có một giếng nước ngọt ở đầu đường, đông ghẹt người đến lấy nước. Ở đây không có việc sắp hàng chờ đợi. Mạnh ai nấy quăng thùng xuống giếng rồi sau đó kéo lên, được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Tiếng thùng thiếc va chạm nhau gây nên một âm thanh loảng xoảng vang dội. Nhìn cảnh lấy nước giành giựt nhau từng lon, tôi ngao ngán. Trơi, phải tả xung hữu đột để kéo lên một lon nước nhỏ, thiệt là vất vả quá. Rồi phải bao lâu mới được một thùng?
Tôi đi hướng về trung tâm của khu A. Một cái ổ ong lớn hoạt động nhộn nhịp rộn ràng ở các dãy nhà ngang, dọc. Khu hành chánh của trại ở đầu đường trên một bãi đất nện được đắp cao. Hai dãy nhà cây lợp tôle dợn sóng, vài cái lều cây và lều vải nhà binh được dựng thêm kế bên. Tất cả đều được một hàng rào kẻm gai vây quanh, những chỗ thiếu kẽm, người ta lấy cây ván thế vào. Những người có thiện chí và khả năng ự nguyện góp công góp sức mình đang lăng xăng làm việc. Có những người đàn ông, đàn bà và đa số là thanh niên trẻ tuổi. Họ đến từ một phương trời xa xăm, không quen biết nhau, vì cùng một cảnh ngộ, đem sức lực và tâm trí đóng góp vào việc chung của trại. Quyền lợi thì hoàn toàn không có gì nhưng trách nhiệm và bổn phận thì khá nhièu. Tôi gặp ngay ông trưởng trại, một người bạn cũ, có một thời anh làm hiệu trưởng trường Trung Học Thoại Ngọc Hầu ở Long Xuyên. Mười năm rồi mới gặp lại nhau, anh cũng không thay đổi chút nào, người nhỏ con rắn chắc, đôi mắt xanh như mắt mèo vì có dòng máu lai, dân gốc ban Pháp Văn, Đại Học Sư Phạm Đà Lạt. Anh gặp tôi mừng rỡ hỏi thăm tin tức quê nhà và các bạn cùng trong nghề dạy học ở Bình Dương. Tôi cũng mừng lắm vì gặp lại bạn cũ ở mơi tha hương, nói:
-Kiệt nè, đừng có lo lần lần rồi tụi mình sẽ thấy các bạn đó ghé vô Bidong nầy hết cho coi. Ở bên nhà, ai nấy cũng rán tìm đường để đi..
Rồi tôi hỏi:
-Bạn có cách nào giúp tôi tìm một người thân trong gia đình đã vượt biên gần hai tháng nay mà không biết tin tức. Tôi cũng có nhờ nhắn tin tối hôm qua…
Kiệt sốt sắng nói:
-Sợ không có ghé vô đảo nầy. Nếu có thì chắc chắn sẽ tìm ra.
Kiệt dẫn tôi vào văn phòng hành chánh, gặp anh trưởng phòng tên Phong, lúc trước cũng là giáo sư dạy ở Pẻtrus Ký. Phong đưa cho tôi sáu quyển sổ lớn dầy cộm, ghi danh sách người tỵ nạn theo thứ tự thời gian đến đảo. Xung quanh những ban khác làm việc rộn ràng, họ ngồi trên các băng bằng cây, đánh máy rào rào. Mặt bàn cũng bằng cây vá víu sơ sài, những tập vở học trò, những cây viết cùng giấy vụn bừa bãi. Bên vách là một cái tủ cây không có cửa dùng để sắp xếp hồ sơ, có một màn vải trắng úa vàng che phủ bên ngoài… Tôi kiếm ngày tháng rồi lật từng trang. Lật hoài, lật hoài… mãi đến giữa trưa cũng không thấy. Tôi cám ơn Kiệt và Phong, từ giả hội trường để trở về, trong bụng thắc mắc, lo âu…
Dựa lưng vào gốc dừa nghỉ mệt, tôi nhìn qua bên trái, một dãy nhà tôle dợn sóng, dùng làm trung tâm y tế của trại. Có một dấu Hồng Thập Tự đỏ sơn ở trước cửa ra vô. Vào giờ nầy tuy người đã thưa bớt nhưng vẫn còn đông lắm. Bất chợt, tôi nhìn thấy một người quen bên kia đường, đang đi lại. Rõ ràng là nhạc sĩ Lê Thương, thầy dạy Sử Địa của tôi ngày trước, không ngờ gặp lại ở cái đảo xa xôi nầy. Thầy Lê Thương cũng y như ngày xưa mập mập, mặt tròn, mắt sáng, miệng cười tươi, phía trong có cái răng vàng duyên dáng. Tôi mừng quá, chạy qua chào hỏi:
-Chào thầy, thầy qua đây từ bao giờ. Thầy còn nhớ em không?
Tôi mừng hết sức, không kìm được lòng nôn nao, hỏi ào ào không kịp thở. Người thầy dạy học mà tôi hằng kính mến và ngưỡng mộ. Những ngày tôi mới lớn, mới vào bậc trung học, thầy Lê Thương với mái tóc xanh mướt óng ả, dáng dấp đẹp đẽ đã gieo vào tâm hồn ngây thơ của tôi lúc đó, niềm say mê, kính phục. Bây giờ thầy cũng đã vượt biên ở chung một đảo nầy, không vui mừng sao được. Tôi đã đứng trước mặt mà thầy vẫn còn ngơ ngác, đứng im. Vậy là thầy đã quên cậu học trò cũ ngày xưa…
Tôi nhắc lại:
-Ngày xưa, em có học với thầy những năm 1953, 1954 ở trường Nguyễn Trãi, Thủ Dầu Một, thầy chắc còn nhớ, những năm première année, deuxième année…
Thầy Lê Thương của tôi, sau một hồi ngỡ ngàng, lắp bắp:
-Ngộ… ngộ, không piết gì hết á, nị nói cái gì vậy?
Trời, sao kỳ cục vậy, tôi nhìn lộn người rồi sao, quê ơi là quê! Thầy Lê Thương nầy không phải thiệt. Ông ta người Tàu, nói tiếng Việt không rành. Lần nầy thì tôi lắp bắp, nói không ra tiếng:
-Ủa… ủa, xin lỗi, xin lỗi… tôi lộn rồi…
Ông Tàu Chợ Lớn bỏ đi một nước. Tôi đứng há hốc như trời trồng, nhìn theo cái lưng ông ta cho tới khi không thấy nữa. Sao mà có người giống nhau quá sức, không phân biệt được. Làm sao mà tôi nhận không đúng thầy Lê Thương? Tự nhiên tôi nghĩ ra một điều, lầm bầm cằn nhằn, -‘thiệt tình, già cái đầu rồi mà còn ba chớp ba sáng, sao không chịu suy nghĩ, hấp tấp nhận lầm, đến phải xin lỗi người ta’. Ngu ơi là ngu! Thầy Lê Thương tới bây giờ ít ra cũng đã sáu mươi đến sáu mươi lăm tuổi. Đã trên hai mươi lăm năm xa cách không gặp lại, thầy phải già ra chớ! Một người sáu mươi mấy với một người bốn mươi tuổi, khác nhau một trời một vực, sao mà lại lầm như vậy cho được. Thì ra cái đầu tôi như cái máy chụp hình. Hình nào nó đã ghi rõ một thời, thì cứ y như vậy mà nhớ hoài, không thay đổi. Không bao giờ thay đổi! Tôi vừa tức cười, vừa quê quê, ngó quanh một lượt coi có ai để ý không, xong rồi đi một hơi về lều, chắc mẹ con Duyên đang chờ cơm.
Võ Kỳ Điền
Subscribe to:
Posts (Atom)